Meropenem - carbapenem thế hệ 2 & có phổ rộng nhất trong các β-lactam, từ lâu được xem là "kháng sinh cuối cùng" cho nhiễm khuẩn Gram âm nặng. Tuy nhiên, tỷ lệ đề kháng meropenem đang tăng với tốc độ báo động trên toàn cầu, đặc biệt ở ba tác nhân chính: Acinetobacter baumannii, Klebsiella pneumoniae và Pseudomonas aeruginosa.

CƠ CHẾ ĐỀ KHÁNG

Vi khuẩn Gram âm kháng meropenem chủ yếu thông qua sản xuất carbapenemase - enzyme thủy phân được cả carbapenem. Ba nhóm carbapenemase quan trọng nhất theo phân loại Ambler gồm: nhóm A (đại diện KPC), nhóm B hay metallo-β-lactamase (NDM, VIM, IMP - không bị ức chế bởi các chất ức chế β-lactamase thông thường), và nhóm D (OXA-48 ở Enterobacteriaceae, OXA-23/24/58 ở A. baumannii).

Các gen carbapenemase nằm trên plasmid và transposon, cho phép lây truyền ngang giữa các vi khuẩn với tốc độ rất nhanh

Ngoài carbapenemase, một số cơ chế bổ sung cũng góp phần gây đề kháng: mất hoặc giảm porin OprD (đặc biệt ở P. aeruginosa), tăng hoạt bơm tống thuốc (efflux pump), và thay đổi protein đích PBP. Khi nhiều cơ chế tích lũy trên cùng một chủng, vi khuẩn trở nên kháng đa thuốc (MDR) và gần như không đáp ứng với bất kỳ kháng sinh đơn lẻ nào.

TÌNH HÌNH TOÀN CẦU

CRE (Enterobacteriaceae kháng carbapenem) đã được WHO xếp vào nhóm ưu tiên khẩn cấp nhất cho nghiên cứu và phát triển kháng sinh mới.

Với P. aeruginosa, dữ liệu cho thấy tỷ lệ kháng meropenem có thể lên đến 78% ở một số quần thể khảo sát, với đặc điểm tích lũy nhiều cơ chế đề kháng đồng thời. A. baumannii thì kháng carbapenem đang dần trở thành kiểu hình phổ biến chứ không còn là ngoại lệ tại nhiều khu vực trên thế giới.

Tại Việt Nam - một trong những "điểm nóng" kháng kháng sinh toàn cầu - dữ liệu cũng rất đáng lo ngại. Nghiên cứu tại BV Đại học Y Dược TP.HCM ghi nhận 96% ca nhiễm A. baumannii là nhiễm khuẩn bệnh viện với tỷ lệ kháng carbapenem rất cao. Tại Đồng Nai, hơn 80% chủng A. baumannii từ bệnh nhân viêm phổi kháng carbapenem, hơn 90% là MDR. Dữ liệu VINARES (2016–2017) từ 13 bệnh viện (42.553 chủng, 71% Gram âm) xác nhận tỷ lệ kháng carbapenem ở A. baumannii và K. pneumoniae rất cao, đặc biệt tại các đơn vị hồi sức tích cực (ICU).

LỰA CHỌN ĐIỀU TRỊ HIỆN CÓ

Các phối hợp kháng sinh mới đang mở ra hy vọng trong điều trị nhiễm khuẩn kháng carbapenem:

+ Meropenem-vaborbactam: hiệu quả với chủng sản xuất KPC, đặc biệt trong nhiễm khuẩn tiết niệu phức tạp và nhiễm khuẩn xâm lấn.

+ Ceftazidime-avibactam: cover KPC và OXA-48.

+ Imipenem-cilastatin-relebactam: lựa chọn mới cho nhiễm khuẩn kháng carbapenem.

+ Cefiderocol: phổ rộng nhất trong các lựa chọn mới, có hoạt tính trên cả A. baumannii và P. aeruginosa kháng carbapenem.

+ Colistin và tigecycline vẫn được sử dụng như lựa chọn cuối cùng, thường phối hợp nhiều thuốc, nhưng hạn chế bởi độc tính và hiệu quả không nhất quán.

Trong một số trường hợp CRE có MIC meropenem thấp - trung bình (4 - 8 mg/L), meropenem liều cao truyền kéo dài (2g mỗi 8 giờ, truyền 3 - 4 giờ) phối hợp kháng sinh khác vẫn có thể đạt target PK/PD - tuy nhiên đây là chiến thuật tình huống, không phải giải pháp lâu dài.

KIỂM SOÁT VÀ PHÒNG NGỪA

Bên cạnh phát triển kháng sinh mới, các chiến lược kiểm soát vẫn là nền tảng: sàng lọc chủ động bệnh nhân mang CRE, cách ly nghiêm ngặt, tăng cường vệ sinh tay và phòng ngừa tiếp xúc, và đặc biệt quản lý sử dụng kháng sinh (antimicrobial stewardship) để giảm áp lực chọn lọc kháng thuốc.

Đề kháng carbapenem không chỉ là vấn đề của bệnh viện. Mỗi quyết định sử dụng kháng sinh không hợp lý - từ tuyến bệnh viện đến nhà thuốc cộng đồng, đều góp phần đẩy nhanh quá trình này.

Tài liệu tham khảo

1. Codjoe F et al. Med Sci. 2017;6(1):1

2. Pascale R et al. Expert Rev Anti Infect Ther. 2019;17(10):819-827

3. Logan LK et al. J Infect Dis. 2017;215(S1):S28-S36

4. Hansen GT. Infect Dis Ther. 2021;10(1):75-92

5. Nguyen M et al. J Appl Microbiol. 2021;131(6):2715-2738

6. Li T et al. Sci Total Environ. 2023;860:160461

7. Diep DTH et al. J Glob Antimicrob Resist. 2023;33:267-275

8. Quoc CH et al. Antibiotics. 2019;8(3):148

9. Vu TVD et al. Antimicrob Resist Infect Control. 2021;10:78

10. Phu DH et al. One Health. 2022;15:100465

11. Wan X et al. Int J Antimicrob Agents. 2025;65(2):107431

12. Novelli A et al. Expert Rev Anti Infect Ther. 2020;18(7):643-655

13. Doi Y. Clin Infect Dis. 2019;69(S7):S565-S575

14. https://pubmed.ncbi.nlm.nih.gov

15. “Giải đáp Dược”.

Tác giả bài viết : Nông Lê Hoàn

Nguồn tin : Bệnh viện đa khoa trung tâm tỉnh Gia Lai