Chỉ từ đầu năm 2016 đến nay, Khoa Truyền Nhiễm Bệnh viện đa khoa tỉnh Bình Định đã tiếp nhận 19 bệnh nhân mắc bệnh uốn ván trong đó có 4 bệnh nhân tử vong, 6 bệnh nhân phải mở khí quản cấp cứu. Sự gia tăng bất thường này chưa lý giải được vì mỗi năm Khoa thường tiếp nhận trung bình từ 10- 15 bệnh nhân, năm 2015 có 14 bệnh nhân. Tử vong do bệnh uốn ván thường do thể nặng, bệnh nhân lớn tuổi lại có bệnh kèm như đái tháo đường, tăng huyết áp hoặc do nhiều biến chứng của bệnh gây nên. Một lý do cũng hay gặp là do chẩn đoán và điều trị muộn vì nhầm lẫn với các bệnh khác như nhồi máu não, viêm cột sống cổ, ung thư vòm họng…Bệnh nhân được đưa đến các khoa khác và mất vài ngày mới nghi ngờ bệnh uốn ván.
Vi khuẩn uốn ván ở khắp nơi
Bệnh uốn ván một bệnh truyền nhiễm nguy hiểm, có tỉ lệ tử vong cao gây ra bởi một độc tố protein mạnh là tetanospasmin do trực khuẩn uốn ván có tên là Clostridium tetani tiết ra. Vi khuẩn gây uốn ván dưới dạng nha bào có ở mọi nơi trong đất, cát, bụi; phân trâu, bò, ngựa và gia cầm; nơi cống rãnh hay dụng cụ phẫu thuật không tiệt trùng kỹ… Trong các môi trường này, vi khuẩn uốn ván dễ dàng xâm nhập vào các vết thương hở dù chỉ là trầy xước. Đáng lưu ý là nha bào uốn ván có thể tồn tại nhiều năm trong môi trường, chỉ bị tiêu diệt trong nước sôi 30 phút, trong môi trường dung dịch sát khuẩn 20 phút. Khi lọt được vào trong vết thương yếm khí (vết thương bị dập nát dính cát bẩn, không có không khí, vết thương bị băng bó chặt, bó lá...), nha bào trở thành vi khuẩn, tiết độc tố uốn ván. Các độc tố này sẽ xâm nhập vào cơ thể, đi vào hệ thần kinh và gây ra co cứng cơ hoặc co giật cơ khi có kích thích, gây co thắt thanh quản dẫn đến ngừng thở và tử vong.
Biết được những biểu hiện của bệnh uốn ván ngay từ ban đầu sẽ tăng cơ hội chữa khỏi bệnh và giảm tối đa những biến chứng nguy hiểm của bệnh uốn ván.
Những biểu hiện của bệnh uốn ván
Dựa theo những biểu hiện lâm sáng của bệnh uốn ván, giới y học đã chia ra làm bốn loại chính là uốn ván toàn thân (dạng hay gặp nhất), uốn ván cục bộ, uốn ván đầu và uốn ván rốn. Giai đoạn đầu của các triệu chứng bệnh uốn ván chúng ta cần chú ý hai thời kỳ. Thời kỳ ủ bệnh, là thời gian từ lúc bị thương đến lúc xuất hiện triệu chứng đầu tiên, trung bình từ 7 đến 14 ngày, ngắn nhất là 48 đến 72 giờ. Thời kỳ khởi phát: là thời gian từ lúc có triệu chứng đầu tiên đến lúc xuất hiện dấu hiệu co thắt hay co giật, trung bình từ 2 đến 5 ngày. Nếu thời kỳ ủ bệnh và thời kỳ khởi phát càng ngắn thì bệnh càng nặng.
*Biểu hiện của bệnh uốn ván toàn thân
Biểu hiện của bệnh uốn ván toàn thân đầu tiên là co cứng cơ. Các cơ co cứng lan dần ra theo một trình tự nhất định. Đầu tiên từ cơ nhai sau đó lan đến các cơ mặt làm cho bệnh nhân có nét mặt cười nhăn, hàm há hạn chế sau đó hàm khít chặt. Tiếp đó là cơ gáy bị co cứng và lan sang cơ lưng, cơ bụng, cơ chi dưới và cuối cùng mới đến cơ chi trên. Hiếm khi có co cứng cơ liên sườn. Bệnh nhân ăn nuốt khó, uống nước bị sặc. Sau giai đoạn co cứng cơ thì biểu hiện tiếp theo của uốn ván toàn thân là co giật và co thắt khi có những kích thích như âm thanh, ánh sáng hoặc không cần kích thích. Nguy hiểm nhất là cơn co thắt hầu họng gây khó nuốt, sặc đàm và co thắt thanh quản đưa đến tím tái và ngưng thở. Biểu hiện của bệnh uốn ván toàn thân cuối cùng là rối loạn cơ năng khiến co thắt hầu họng, tăng tiết đàm nhớt, tắc nghẽn đường hô hấp gây khó nuốt, khó nói, khó thở.
Tổng trạng chung của bệnh nhân tỉnh táo, không sốt. Trường hợp nặng sẽ có rối loạn hệ thần kinh thực vật như huyết áp tăng thất thường, hay thường xuyên; nhịp tim nhanh, loạn nhịp tim; sốt cao, vã mồ hôi..
*Biểu hiện của bệnh uốn ván cục bộ, uốn ván đầu và uốn ván rốn
Uốn ván cục bộ là dạng ít gặp, biểu hiện của bệnh uốn ván cục bộ chỉ giới hạn ở các cơ gần vết thương, đây là thể nhẹ, tiên lượng tốt. Uốn ván đầu là một hình thái hiếm gặp của uốn ván cục bộ. Các triệu chứng gồm cứng hàm, rối loạn chức năng một hoặc nhiều dây thần kinh sọ, thường gặp là dây số 7, tỷ lệ tử vong cao.
Uốn ván rốn hay uốn ván ở trẻ sơ sinh, thường khởi phát trong 2 tuần đầu sau khi sinh, biểu hiện của bệnh uốn ván này có thể thấy qua các dấu hiệu: trẻ bỏ bú, cứng cơ và các cơn co cứng, co giật toàn thân và dễ dẫn đến tử vong nếu không điều trị kịp thời.
Phòng bệnh uốn ván
Nha bào của vi khuẩn uốn ván chỉ có thể phát triển thành vi khuẩn gây bệnh trong môi trường yếm khí và vết thương bị dập nát. Vì vậy để phòng bệnh uốn ván, sau khi xảy ra tai nạn cần sửa sạch vết thương, lấy hết dị vật, cắt bỏ vùng da thịt dập nát và khử trùng vết thương. Phụ nữ trong khi sinh nở cần đảm bảo vô trùng, trẻ sơ sinh cần vệ sinh cuống rốn sạch sẽ sẽ loại trừ nguy cơ bị uốn ván. Song song với việc sơ cứu, việc cần làm ngay sau đó là tiêm vắc xin để phòng bệnh uốn ván. Đây là phương pháp chủ động, chi phí lại không tốn kém và là phương pháp hiệu quả nhất. Sau khi tiêm vắc xin, cần theo dõi kỹ tình trạng sức khỏe, nếu thấy xuất hiện những biểu hiện của bệnh uốn ván cần phải đến bệnh viện ngay lập tức để có phác đồ điều trị kịp thời.
Nhiều nghiên cứu về bệnh uốn ván đều cho thấy đa phần bệnh nhân bị nhiễm trùng uốn ván là nam giới, tập trung ở lứa tuổi thanh niên và trung niên. Điều này có lẽ, hầu hết phụ nữ mang thai đã được tiêm vắc xin uốn ván nên đã có kháng thể bảo vệ. Đối với nam giới, dù đã được tiêm vắc-xin từ lúc còn nhỏ nhưng sau một thời gian dài (khoảng 10 năm), hiệu lực bảo vệ của vắc xin sẽ giảm nên dễ mắc bệnh uốn ván.
Thực hiện tiêm vắc xin phòng uốn ván: Trẻ nhỏ tiêm vắc xin trong chương trình tiêm chủng mở rộng. Phụ nữ có thai tiêm phòng vắc xin để phòng uốn ván cho mẹ và uốn ván sơ sinh cho trẻ.