Ồ trẻ trên 3 tháng tuổi, tác nhân gây bệnh viêm màng não mủ thường gặp là Hemophillus influenzea type B (HiB), Streptococcus pneumoniae và Neisseria meningitidis. Bệnh nhân nghi ngờ viêm màng não mủ phải được chọc dò dịch não tủy ngay khi có thể. Chẩn đoán dựa vào triệu chứng lâm sàng và kết quả dịch não tủy (DNT) với đạm tăng, đường bình thường hoặc giảm, có bạch cầu trong DNT, cấy DNT. Kháng sinh đường tĩnh mạch là điều trị bắt buộc trên bệnh nhân viêm màng não mủ. Đây là một bệnh lý đã được đề cập từ lâu trong y văn, tuy nhiên trên lâm sàng, việc chẩn đoán, điều trị và phòng ngừa vẫn còn nhiều tranh cãi.        
1. Corticoid có lợi trên bệnh nhân viêm màng não mủ không?
 Corticoid giúp làm giảm tỉ lệ biến chứng về thính lực và các biến chứng thần kinh nhưng không làm giảm tỉ lệ tử vong chung trên bệnh nhân viêm màng não mủ.
Phân tích tổng hợp 24 nghiên cứu RCT (4041 bệnh nhân viêm màng não mủ với các tác nhân Hemophilus influenzae, Neisseria meningitidis, Streptococcus pneumoniae) cho thấy corticoid làm giảm rõ tỉ lệ biến chứng nghiêm trọng về thính lực (RR 0.67, 95% Cl 0.51 –
88), giảm tỉ lệ biến chứng thần kinh (RR 0.83, 95% Cl 0.69 - 1.0). Tuy nhiên corticoid không làm giảm tỉ lệ tử vong chung (RR 0.74, 95% Cl 0.53 - 1.05). Khi phân chia theo nhóm tác nhân gây bệnh, corticoid làm giảm tỉ lệ tử vong trên bệnh nhân viêm màng não do Streptococ­cus pneumoniae (RR 0.84, 95% Cl 0.72 - 0.98).
Khảo sát các tác dụng phụ gây ra do corticoid, bao gồm xuất huyết tiêu hóa, viêm khớp, nhiễm nấm, nhiễm herpes cho thấy không có sự khác biệt có ý nghĩa giữa nhóm có và không sử dụng corticoid.
Tuy nhiên corticoid làm tăng tỉ lệ sốt tái phát trên bệnh nhân viêm màng não mủ (RR 1.27, 95% Cl 1.09 - 1.47). Hầu hết các nghiên cứu này đều được tiến hành tại các nước phát triển. Khi chia nhóm giữa các nước phát triển và nước đang phát triển, kết quả phân tích cho thấy corticoid có tác dụng rõ rệt tại các nước phát triển nhưng ít hiệu quả tại các nước đang phát triển.
Về thời điểm cho liều corticoid đầu tiên, các khuyến cáo đều cho rằng phải cho corticoid trước hoặc cùng lúc với liều kháng sinh đầu tiên để đảm bảo corticoid phát huy tác dụng tối đa.
Tuy nhiên trong phân tích gộp của Cochcrane cho thấy không có sự khác biệt về tỉ lệ tử vong giữa nhóm dùng corticoid trước hay cùng với liều kháng sinh đầu tiên và nhóm sử dụng sau liều kháng sinh đầu tiên (RR 0.98, 95% Cl 0.87- 1.10; RR 0.83, 95% Cl 0.55 - 1.26).
Đối với các biến chứng giảm thính lực và biến chứng thần kinh khác cũng không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa hai nhóm.
Đối với các biến chứng giảm thính lực và biến chứng thần kinh khác cũng không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa hai nhóm.
Mặc dù vậy, nghiên cứu phân tích gộp này không đề cập đến thời gian sử dụng corticoid sau liều kháng sinh đầu tiên là sau bao lâu, do đó kết luận đưa ra về thời gian sử dụng corticoid thiếu tính thuyết phục.
2.Có nên hạn chế dịch truyền trên bệnh nhân viêm màng não mủ?
Nhiều ỷ kiến cho rằng nên hạn chế dịch truyền (2/3 nhu cầu) trên bệnh nhân viêm màng não để giảm thiểu nguy cơ phù não, tỉ lệ tử vong và các biến chứng thần kinh. Tuy nhiên kết quả khảo sát cho thấy không có sự khác biệt về tỉ lệ tử vong cũng như các biến chứng thần kinh trên bệnh nhân không hạn chế dịch.
Tổng hợp 3 nghiên cứu RCT trên 415 bệnh nhi viêm màng não mủ, so sánh giữa nhóm bệnh nhân không hạn chế dịch và nhóm hạn chế dịch cho thấy không có sự khác biệt có ý nghĩa về tỉ lệ tử vong (RR 0.82, 95% Cl 0.53 - 1.27), các biến chứng thần kinh cấp (RR 0.67, 95% Cl 0.41 - 1.08), các biến chứng thần kinh nhẹ và vừa (RR 1.67, 95% Cl 0.58 - 2.65).
Khi phân nhóm bệnh nhân theo triệu chứng thần kinh, việc duy trì dịch truyền theo nhu cầu giúp giảm tỉ lệ co giật trong 72 giờ đầu (RR 0.59, 95% Cl 0.42 - 0.83) và sau 14 ngày (RR 0.19, 95% Cl 0.04 - 0.88). Duy trì dịch truyền cũng giúp làm giảm tỉ lệ biến chứng co cứng cơ (RR 0.50, 95% Cl 0.27 - 0.93).
3.Có cần điều trị dự phòng viêm màng não mủ trên bệnh nhân có vết thương sọ não không? Điều trị dự phòng trên bệnh nhân có shunt não thất hoặc đặt dụng cụ can thiệp vào não thất?
 Vết thương sọ não là một trong những yếu tố thuận lợi cho viêm màng não mủ do tạo cửa ngõ tiếp xúc giữa màng não và vi khuẩn. Một số bác sĩ cho rằng nên điêu trị kháng sinh dự phòng liều viêm màng não mủ trên những bệnh nhân này để ngăn ngừa viêm màng não mủ xảy ra. Tuy nhiên, việc điều trị này không làm giảm tỉ lệ viêm màng não mủ cũng như tỉ lệ tử vong so với các bệnh nhân không được điều trị dự phòng.
Phân tích tổng hợp 5 nghiên cứu RCT với 208 bệnh nhân cho thấy, điều trị kháng sinh dự phòng trên các bệnh nhân có vết thương sọ não không làm giảm tỉ lệ viêm màng não mủ (OR 0.69, 95% Cl 0.29 -1.61), không giảm tỉ lệ tử vong chung (OR 1.68, 95% Cl 0.41 - 6.95) cũng như không làm giảm tỉ lệ tử vong do viêm màng não mủ (OR 1.03 95% Cl 0.14 - 7.04)
Tuy nhiên, các nghiên cứu được đưa vào phân tích không được thiết kế chặt chẽ, do đó mức độ chứng cứ và khuyến cáo không cao.
Trên những bệnh nhân có đặt shunt não thất (VP hay VA shunt), tỉ lệ nhiễm trùng shunt dao động từ 5-15%. Dấu hiệu lâm sàng thường không rõ ràng, khó chẩn đoán. Bệnh nhân có thể có dấu hiệu tăng áp lực nội sọ hay triệu chứng khu trú ở đầu xa của shunt. Có rất ít tế bào trong DNT, do đó cẩn kết hợp với nhuộm gram, cấy DNT, cấy máu và hình ảnh học để chẩn đoán.
Điều trị nhiễm trùng shunt được khuyến cáo bao gồm tháo bỏ shunt, dẫn lưu não thất, đặt lại shunt mới khi đã hết tình trạng nhiễm trùng và kháng sinh tĩnh mạch.
Một nghiên cứu hồi cứu trên 50 bệnh nhân nhiễm trùng shunt, trong đó 22 bệnh nhân được tháo bỏ shunt, dẫn lưu và điều trị kháng sinh; 17 bệnh nhân được tháo bỏ shunt, đặt lại shunt mới ngay không dẫn lưu, phối hợp kháng sinh; 11 bệnh nhân chỉ được điều trị kháng sinh không tháo shunt cho thấy tỉ lệ hồi phục tương ứng ở các nhóm là 95%, 65% và 35%.
Kháng sinh sử dụng cho bệnh nhân nhiễm trùng shunt cần phải là loại có thể phủ được chủng Staphylococci coagulase (-) và các tác nhân nhiễm trùng cơ hội gram (-) khác. Kháng sinh được chọn lựa là Vancomycin kết hợp với Ceftazidime, Cefepim hay Meropenem. Thời gian sử dụng kháng sinh tùy thuộc vào tình trạng của bệnh nhân. Cho đến nay, chưa có nghiên cứu RCT nào khảo sát thời gian sử dụng kháng sinh thích hợp.
Hiện cũng chưa có nghiên cứu RCT nào khảo sát vấn đề sử dụng kháng sinh trước khi đặt shunt, nhưng một phân tích gộp 15 nghiên cứu mô tả cho thấy bệnh nhân có sử dụng kháng sinh dự phòng trước đặt shunt làm giảm rõ rệt tình trạng nhiễm trùng shunt sau đó (OR 0.52, 95% Cl 0.36-0.74). Kháng sinh được khuyến cáo là Vancomycin liều 15mg/kg truyền tĩnh mạch 2 giờ trước phẫu thuật đặt shunt và liều thứ hai 12 giờ sau đó.
4.Bơm kháng sinh trực tiếp vào não thất có tác dụng tốt hơn kháng sinh đường tĩnh mạch không?
 Trên lý thuyết, bơm kháng sinh trực tiếp vào não thất kết hợp với kháng sinh đường tĩnh mạch ở trẻ sơ sinh có thể giúp đạt nồng độ kháng sinh cao trong DNT và do đó có thể diệt vi trùng nhanh hơn. Tuy nhiên, bằng chứng YHCC cho thấy việc bơm kháng sinh trực tiếp vào não thất làm tăng tỉ lệ tử vong so với điều trị kháng sinh đường tĩnh mạch thông thường.
Trong một nghiên cứu gồm 53 trẻ sơ sinh viêm màng não mủ và viêm não thất, tỉ lệ tử vong ở nhóm bơm kháng sinh trực tiếp vào não thất kết hợp kháng sinh đường tĩnh mạch cao gấp 3 lần nhóm chỉ dùng kháng sinh đường tĩnh mạch (RR 3.43, 95% Cl 1.09 - 10.74). Không có sự khác biệt có ý nghĩa về thời gian sạch trùng trong dịch não tủy giữa 2 nhóm. Đây là nghiên cứu RCT duy nhất tính đến hiện tại về vấn đề này. Tỉ lệ tử vong cao ở nhóm bơm kháng sinh vào não thất gây nhiều quan ngại khi tiến hành các nghiên cứu tương tự.
5.Kháng sinh Ceftriaxone liều duy nhất hay chia 2 lần/ngày là tốt nhất trên bệnh nhân viêm màng não mủ?
 Cephalosporin thế hệ 3 đã được chứng minh có tác dụng tốt trong điều trị viêm màng não mủ. Liều khuyến cáo cho Ceftriaxone là 10Omg/kg/ngày. Do thời gian bán hủy kéo dài nên Ceftriaxone được sử dụng liều duy nhất/ngày trong hầu hết các loại nhiễm khuẩn. Tuy nhiên nhiều bác sĩ lâm sàng cho rằng đối với điều trị viêm màng não mủ, nên chia Ceftriaxone thành 2 cữ mỗi 12 giờ.
Không có nghiên cứu phân tích gộp (systematic review) cũng như nghiên cứu RCT nào chứng minh cho vấn đề này. Kháng sinh tĩnh mạch Ceftriaxone liều duy nhất/ngày và chia 2 liều/ngày có tác dụng như nhau.
Tuy nhiên trong một số sách textbook, các tác giả khuyến cáo đối với điều trị viêm màng não mủ, nên chia Ceftriaxone thành 2 liều/ngày để giảm thiểu các vấn đề liên quan đến kỹ thuật như sai liều, quên liều (khi chia 2 liều/ngày, bệnh nhân vẫn có được 1 lượng kháng sinh nếu quên 1 liều). Ngoài ra, đối với các vi khuẩn kháng Penicillin nhưng không kháng Cephalosporin, sử dụng Ceftriaxone 2 lần/ngày được khuyến cáo có hiệu quả hơn 1 ần / ngày.
6.Thời gian điểu trị kháng sinh trong viêm màng não mủ
 Chưa có nghiên cứu RCT nào được thiết kế chặt chẽ đủ để đưa ra kết luận về thời gian điều trị kháng sinh thích hợp nhất.
Nghiên cứu mô tả tiền cứu trên các trẻ viêm màng não mủ mức độ nhẹ và trung bình tại Ấn Độ cho thấy Ceftriaxone tiêm tĩnh mạch 7 ngày có tác dụng tương đương 10 ngày.
Nghiên cứu tương tự cũng được tiến hành tại các nước khác, cho thấy không có sự khác biệt giữa Ceftriaxone 4 ngày và 7 ngày (nghiên cứu tại Chilê) và 7 ngày với 10 ngày (nghiên cứu tại Thụy Sĩ).
Tuy nhiên, do các nghiên cứu này là nghiên cứu mô tả tiền cứu và chỉ tiến hành trên bệnh nhân viêm màng não mủ nhẹ và vừa, nên kết luận khác nhau và không có tính thuyết phục cao.
Hiện nay các khuyến cáo về thời gian điều trị kháng sinh đều chủ yếu dựa trên tiêu chuẩn và kinh nghiệm lâm sàng.
Đối với bệnh nhân có kết quả cấy DNT (+), thời gian sử dụng kháng sinh trên những trường hợp viêm màng não không biến chứng được khuyến cáo như sau:
  • S. pneumoniae: 10-14 ngày
  • N. meningitidis: 5-7 ngày
  • H. influenzae type b (Hib): 7-10 ngày
  • L. monocytogenes: 14-21 ngày
  • S. aureus: ít nhất 2 tuần
  • Trực khuẩn gram (-): 3 tuần hay tối thiểu 2 tuần sau khi mẫu cấy DNT cho kết quả âm tính.
Đối với bệnh nhân có kết quả cấy DNT (-), thời gian sử dụng kháng sinh tùy thuộc vào kết quả cấy máu, sinh hóa DNT và lâm sàng. Một số trường hợp có thể cân nhắc ngưng kháng sinh sớm nếu DNT âm tính trong lần cấy đầu tiên và tiếp tục âm tính 48- 72 giờ sau đó, cấy máu âm tính, sinh hóa DNT bình thường, lâm sàng cải thiện tốt.
7. Có nên điều trị dự phòng cho trẻ sống cùng nhà với trẻ viêm màng não mủ?
 Đối vôi viêm màng não do não mô cầu, cần phải điều trị dự phòng cho những người sống chung nhà với bệnh nhân nhằm giảm tối đa khả năng lây lan (tỉ lệ lây lan trong những người sống cùng nhà là 4/1000 ca nếu không điều trị dự phòng).
Một nghiên cứu phân tích gộp bao gồm 24 nghiên cứu mô tả tiền cứu có hoặc không có ngẫu nhiên với tổng cộng 6885 người cho thấy, Ciprofloxacin ( RR 0.03, 95% Cl 0.00 - 0.42), Rifampicin (RR 0.20, 95% Cl 0.14-0.29) và Penicillin (0.63, 95% Cl 0.51-0.79) có hiệu quả trong điều trị dự phòng viêm màng não mủ do não mô cầu.
Tuy nhiên khi theo dõi trong thời gian 4 tuần sau đó cho thấy dự phòng bằng Rifampicin có thể tạo ra những chủng vi khuẩn kháng thuốc nên Ciprofloxacin và Penicillin được lựa chọn nhiều hơn.
TÀI LIỆU THAM KHẢO :
 (2008), “EFNS guideline on the rouwer MC, McIntyre P, de Gans J, Prasad K, van de Beek D, (2010), “Corticosteroids for acute bacterial meningitis (Review)”, The Cochrane Library, Issue 9
  1. Dan Mayer, (2010), “Ensential evidence - based medicine”, 2nd edition, Cambridge University Press, 33-55
  2. Larry M, Baddour, Patricia M. Flynn, Thomas Fekete . UpToDate: “Infections of central nervous system shunts and other devices”. Literature review current through: Jan 2013. I Last updated: Aug 27, 2012.
  3. Maconochie IK, Baumer JH, (2011), “Fluid therapy for acute bacte­rial meningitis (Review)”, The Cochrane Library, Issue 2
  4. Ratilal BO, Costa J, Sampaio C, Pappamikail L, (2011), “Antibiotic prophylaxis for preventing meningitis in patients with basilar skull fractures (Review)”, The Cochrane Library, Issue 8
  5. Shah SS, Ohlsson A, Shah VS, (2012), “Intraventricular antibiotics for bacterial meningitis in neonates (Review)”, The Cochrane Library, Issue 7
  6. Sheldon L. Kaplan. UpToDate: “Treatment and prognosis of acute bacterial meningitis in children older than one month of age”. Literature review current through: Jan 2013. I Last updated: Oct 11, 2012
  7. Zalmanovici Trestioreanu A, Fraser A, Gafter-Gvili A, Paul M, Leibo- vici L, (2011), “Antibiotics for preventing meningococcal infections (Review)”, The Cochrane Library, Issue 8.

Tác giả bài viết: Sưu tầm

Nguồn tin: Phòng Chỉ đạo tuyến BVĐK tỉnh Bình Định

Tác giả bài viết :

Nguồn tin :