TÓM TẮTMục tiêu: mục tiêu của nghiên cứu này mô tả đặc điểm hình ảnh trên siêu âm và niệu đồ tĩnh mạch (NĐTM), đồng thời khảo sát mối liên quan giữa biến đổi hình thái và chức năng bài tiết của thận trong hội chứng tắc đường dẫn niệu mạn tính.
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: chúng tôi tiến hành nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 100 bệnh nhân và 110 thận có hình ảnh hội chứng tắc đường dẫn niệu mạn tính (giãn đài bể thận và nguyên nhân tắc), được làm siêu âm và niệu đồ tĩnh mạch tại bệnh viện Trung ương Huế và bệnh viện Trường Đại học Y dược Huế từ tháng 05/2011 đến tháng 08/2012.
Kết quả: Siêu âm phát hiện được 105/110, NĐTM phát hiện được 98/110 thận có tắc đường dẫn niệu mạn tính. Các đặc điểm hình ảnh của hội chứng bao gồm: giãn đài bể thận độ III siêu âm 58,2%, NĐTM 63,3%; thận có teo mỏng nhu mô siêu âm phát hiện 51,8%, NĐTM 41,8%. Các bất thường về chức năng: 95,5% thận có chậm bài tiết trong đó có 47,3% thận tắc nặng và rất nặng, 81,8% thận giảm đậm độ mô thận cản quang, 93,5% thận chậm bài xuất. Có mối tương quan nghịch mức độ vừa giữa bề dày nhu mô thận với thời gian bài tiết cảu thận. Có mối tương quan thuận giữa độ giãn đài bể thận với thời gian bài tiết của thận.
Kết luận: Trong hội chứng tắc đường dẫn niệu mạn tính, chức năng thận bị suy giảm nhiều thì sự kết hợp của siêu âm và NĐTM là cần thiết để trả lời cho các câu hỏi: có tắc hay không tắc, nguyên nhân, vị trí tắc cũng như các hậu quả về hình thái và chức năng do hội chứng này gây ra.
Từ khóa: tắc đường dẫn niệu mạn tính, thận ứ nước, siêu âm, niệu đồ tĩnh mạch.
Abstract:Objective: The purpose of this study was to describe the ultrasound and intravenous urography (IVU) image features, study the correlation between morphology and function of the kidney which suffering chronic obstruction uropathy.
Materials and Methods: we conducted at 100 patients and 110 kidneys were detected with images of chronic urinay tract obstruction (hydronephrosis and the causes of obstruction), had had ultrasound and IVU at Hue Central Hospital and Hue University Hospital from 05/2011 to 08/2012.
Results: ultrasound detected 105/110 kidneys with chronic urinary obstruction. The image features include: hydronephrosis grade III: ultrasound 58.2%, IVU 63.3%, thin renal parenchyma ultrasound 51.8%, IVU 41.8%. The abnormal functions include: delay contrast secretion 95.5% in that 47.3% severe and seriuosly severe obstruction, decreasingly dense nephrogarm 81.8%, retard contrast excretion 93.5%. There had a moderately negative correlation between renal parenchyma and moderative positive degree of hydronephrosis with secretion time of kidneys.
Conclusions: In chronic urinary tract obstruction, renal funtion usually decreases or loses, so the combination of ultrasound anh IUV is necessary to answer these questions: yes or no obstruction syndrome, the level, the caution and the consequence…
Key words: chronic urinary obstruction, hydronephrosis, ultrasound, IVU.
ĐẶT VẤN ĐỀHội chứng tắc nghẽn đường tiết niệu bao gồm các hậu quả về mặt hình thái và chức năng đường tiết niệu do sự hiện diện một chướng ngại ở vị trí nào đó của đường bài xuất nước tiểu từ đài thận cho đến lỗ niệu đạo, làm cản trở sự lưu thông của nước tiểu [5], [9]. Đây là hội chứng thường gặp nhất trong niệu khoa, trong một nghiên cứu qua phẫu tích trên 59064 tử thi từ trẻ mới sinh đến người già, ước tính tỷ lệ thận ứ nước là khoảng 3,1% [5]. Triệu chứng của tắc đường dẫn niệu rất đa dạng và không điển hình, từ biểu hiện rầm rộ của cơn đau quặn thận trong tắc cấp tính cho tới không có dấu hiệu gì trong trường hợp tắc mạn tính [8]. Do vậy, chẩn đoán hình ảnh có vai trò quyết định trong phát hiện và chẩn đoán sớm các trường hợp tắc đường dẫn niệu mạn tính. Không những chẩn đoán xác định có tắc đường dẫn niệu hay không, các phương tiện chẩn đoán hình ảnh còn có thể chẩn đoán nguyên nhân, vị trí tắc và góp phần đánh giá hậu quả về hình thái (giãn đài bể thận), chức năng và biến chứng do hội chứng tắc mạn gây nên, giúp các bác sỹ lâm sàng có thái độ xử trí phù hợp [6], [9].
Là một kỹ thuật thường quy trong ngành tiết niệu, siêu âm chẩn đoán khá dễ dàng các trường hợp có giãn đài bể thận, đánh giá mức độ giãn, khảo sát hình thái nhu mô và có thể xác định được nhiều nguyên nhân tắc như sỏi, u … [2]. Tuy nhiên, siêu âm còn có nhiều hạn chế như: không đánh giá được chức năng thận, dễ chẩn đoán nhầm với nang cạnh bể thận, bể thận ngoài xoang, không phân biệt được giãn đài bể thận do tắc với giãn đài bể thận do giảm trương lực và một số trường hợp không tìm ra nguyên nhân tắc [2], [7]. Với sự ra đời của các kỹ thuật hiện đại như siêu âm, cắt lớp vi tính, cộng hưởng từ, vai trò của niệu đồ tĩnh mạch đã giảm đi nhiều. Tuy nhiên, niệu đồ tĩnh mạch đến nay vẫn là một kỹ thuật cho phép khảo sát tốt nhất toàn bộ đường dẫn niệu và đánh giá chức năng từng thận nên vẫn được chỉ định trong một số trường hợp tắc mạn tính [4], [9].
Để tìm hiểu mối liên quan giữa những biến đổi hình thái trên siêu âm và niệu đồ tĩnh mạch của tắc đường dẫn niệu mạn tính, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu đặc điểm hình ảnh hội chứng tắc đường dẫn niệu mạn tính trên siêu âm và niệu đồ tĩnh mạch”.
MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU:1. Mô tả đặc điểm hình ảnh hội chứng tắc đường dẫn niệu mạn tính trên siêu âm và niệu đồ tĩnh mạch..
2. Khảo sát mối liên quan giữa biến đổi hình thái và chức năng bài tiết của thận trong hội chứng tắc đường dẫn niệu mạn tính.
.
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU1. Đối tượng nghiên cứu:100 bệnh nhân và 110 thận, được phát hiện có hình ảnh tắc đường dẫn niệu mạn tính, vào điều trị tại bệnh viện trường Đại học Y Dược Huế và bệnh viện Trung Ương Huế từ tháng 5/2011 đến tháng 8 /2012.
1.1. Tiêu chuẩn chọn Tất cả các bệnh nhân được chọn không có biểu hiện cơn đau quặn thận, được làm siêu âm bụng, chụp niệu đồ tĩnh mạch (bao gồm phim hệ tiết niệu không chuẩn bị), và được chẩn đoán hội chứng tắc đường dẫn niệu mạn tính (hình ảnh giãn đài bể thận kèm nguyên nhân tắc) trên siêu âm hoặc niệu đồ tĩnh mạch hoặc phối hợp cả hai kỹ thuật.
1.2. Tiêu chuẩn loại trừ Giãn đài bể thận không do tắc, thận ứ nước khu trú, có tiền sử can thiệp, phẫu thuật làm mất hình ảnh giải phẫu bình thường thận.
2. Phương pháp nghiên cứu:2.1. Thiết kế nghiên cứu: nghiên cứu mô tả cắt ngang.
2.2. Phương tiện nghiên cứu: Máy siêu âm của hãng Siemens Sonoline G20, GE LOGIQ với các đầu dò có tần số 3,5 MHz và 5 MHz.
Máy X quang: máy Shimadzu SC 50 (Nhật Bản). Hằng số chụp: 55 - 70 Kilovolt, 200 miliampere, 0,1 giây, hệ thống X - quang kỹ thuật số CR 97 của hãng Kodak, phần mềm vi tính xử lý và lưu trữ. Thuốc: thuốc cản quang Iod Ultravist 300 mgI/ml, độ thẩm thấu thấp (loại tan trong nước dùng cho mạch máu), liều lượng 1 - 2 ml/kg cân nặng cơ thể.
2.3. Các biến số nghiên cứu và cách đánh giá - Các đặc điểm chung: tuổi, giới, lý do vào viện
- Phân tích hình ảnh siêu âm:
+ Giãn đài bể thận: có, không. Phân độ giãn đài bể thận theo phương pháp của tác giả Ellenbogen: Độ I: hình ảnh giãn nhẹ các tiểu đài và bể thận giãn dạng bầu dục, phần xoang thận ngoại vi liên tục. Độ II: hình ảnh tách rời xoang thận do bể thận do bể thận giãn hình cầu, các đài thận giãn và liên tục với bể thận, xoang thận phần ngoại vi còn liên tục. Độ III: hình ảnh đài bể thận giãn lớn, chiếm chỗ xoang thận, xoang thận ngoại vi mất liên tục, nhu mô thận mỏng [3].
+ Khảo sát bề dày nhu mô thận: được xác định bằng khoảng cách từ bao thận đến nhú thận, đo trên cùng mặt cắt với đo chiều dài của thận ở 1/3 giữa.
+ Xác định vị trí và nguyên nhân tắc nghẽn.
- Phân tích hình ảnh niệu đồ tĩnh mạch
+ Các bất thường chức năng thận: Chậm bài tiết: thuốc cản quang chưa vào đài thận sau 5 phút kể từ khi tiêm thuốc và chậm hơn so với bên đối diện (mức độ tắc nhẹ: chậm bài tiết < 15 phút, mức độ tắc trung bình: chậm bài tiết trong khoảng 15- 60 phút, mức độ tắc nặng: chậm bài tiết trong khoảng 61- 180 phút, mức độ tắc rất nặng: chậm bài tiết > 180 phút), chậm bài xuất, giảm đậm độ mô thận cản quang.
+ Thay đổi hình thái thận: giãn đài bể thận (độ I: góc tiểu đài căng tròn, kích thước có thể tăng hoặc chưa nhưng hình dạng chưa thay đổi, độ II: đáy tiểu đài mất hình lõm bình thường, trở nên phẳng, bờ tiểu đài căng phồng, độ III: tiểu đài có thể tích tăng lên nhiều, đáy lồi, đài có hình cầu nhỏ hoặc lớn, nhu mô thận có thể teo mỏng [1]).
+ Xác định vị trí và nguyên nhân tắc nghẽn.
- Khảo sát mối liên quan giữa bề dày nhu mô thận, độ giãn đài bể thận trên siêu âm với thời gian bài tiết của thận trên NĐTM.
3. Xử lý số liệu: Phân tích số liệu với phần mềm Medcalc.
KẾT QUẢTrong nhóm nghiên cứu của chúng tôi có 100 trường hợp tắc đường dẫn niệu trên mạn tính, thỏa mãn tiêu chuẩn chọn bệnh và được đưa vào mẫu, trong đó có 10 trường hợp bị tắc đường dẫn niệu mạn tính cả hai bên nên số thận khảo sát là 110.
Kết quả chi tiết như sau:
3.1. Đặc điểm chung (n = 100) - Tuổi: nhóm tuổi chiếm tỷ lệ cao nhất là 50 - 59 với tỷ lệ 26,0%, tuổi trung bình là 51 tuổi, thấp nhất là1 tuổivà cao nhất là 89 tuổi.
- Giới: nam giới chiếm tỷ lệ 53,0%, nữ giới 47,0%.
-
Lý do vào viện: đau âm ỉ vùng thắt lưng là lý do thường gặp nhất chiếm 70,0%, sốt chiếm 7,0%, phát hiện tình cờ chiếm 13,0%, các lý do khác chiếm 10,0%.
3.2. Đặc điểm hình ảnh siêu âm (n = 110)
- Thận giãn độ III hay gặp nhất chiếm tỷ lệ 58,2%, độ II chiếm 23,6% và độ I chiếm 17,3%.
- 51,8% bệnh nhân có teo mỏng nhu mô thận trên siêu âm.
- Nguyên nhân tắc nghẽn trên siêu âm: Nhóm nguyên nhân mắc phải: Sỏi là nguyên nhân hay gặp chiếm 61,8%, u chiếm 14,5%. Nhóm nguyên nhân bẩm sinh: hẹp khúc nối bể thận – niệu quản là nguyên nhân chiếm 19,1%, niệu quản khổng lồ 0,9%. Chưa rõ nguyên nhân chiếm 3,7%.
3.3. Đặc điểm hình ảnh niệu đồ tĩnh mạch
- Bất thường chức năng thận trên NĐTM (n = 110): chậm bài tiết chiếm 95,5%, giảm đậm độ mô thận cản quang chiếm 81,8%, chậm bài xuất chiếm 93,5%, dấu hiệu “lưỡi liềm” chiếm 4,5%.
- Thận tắc mức độ nặng chiếm tỷ lệ 36,4%, thận tắc rất nặng chiếm tỷ lệ 10,9%, thận tắc mức độ trung bình chiếm 34,5%, tắc mức độ nhẹ 13,7%.
- Các thay đổi hình thái thận trên NĐTM: khảo sát hình thái trên 98 thận cón chức năng chúng tôi có kết quả: thận ứ nước độ III chiếm tỷ lệ cao nhất 63,3%, thận ứ nước độ II chiếm 25,5%, độ II chiếm 25,5%, độ I chiếm 11,2%. 41,8% thận có nhu mô teo mỏng.
- Vị trí tắc nghẽn trên NĐTM: bể thận chiếm tỷ lệ cao nhất 55,5%, tại khúc nối bể thận - niệu quản chiếm 21,9%, niệu quản 1/3 trên chiếm 3,6%, niệu quản 1/3 giữa chiếm 3,6%, niệu quản 1/3 dưới 12,7%. Có 2,7% không xác định được vị trí tắc khi chụp NĐTM.
3.3. Liên quan giữa hình thái và chức năng thận trong tắc đường dẫn niệu mạn tính
Biểu đồ 1: Mối tương quan giữa bề dày nhu mô thận và thời gian bài tiết của thận.
Có mối tương quan nghịch mức độ vừa giữa bề dày nhu mô thận và thời gian bài tiết của thận (r = - 0,45, p < 0,05).
Biểu đồ 2: Mối tương quan giữa độ giãn trên siêu âm và thời gian bài tiết của thận.
Có mối tương quan thuận mức độ vừa độ giãn trên siêu âm và mức độ chậm bài tiết trên niệu đồ tĩnh mạch (r = 0,42, p < 0,05).
Bảng 1. Mức độ phù hợp chẩn đoán độ giãn đài bể thận bằng siêu âm và NĐTM.
| Độ giãn trên NĐTM |
Độ giãn trên siêu âm |
Tổng |
| Bình thường |
I |
II |
III |
| Bình thường |
0 |
0 |
0 |
0 |
0 (0,0%) |
| I |
1 |
9 |
0 |
1 |
11 (10,0%) |
| II |
0 |
10 |
9 |
6 |
25 (22,7%) |
| III |
0 |
0 |
15 |
47 |
62 (56,4%) |
| Thận câm |
0 |
0 |
2 |
10 |
12 (10,9%) |
| Tổng |
1 (0,9%) |
19 (17,3%) |
26 (23,6%) |
64 (58,2%) |
110 |
| Kappa = 0,478 |
Bảng 2. Sự phù hợp trong chẩn đoán nguyên nhân tắc nghẽn bằng siêu âm và NĐTM
| Nguyên nhân trên NĐTM |
Nguyên nhân trên siêu âm |
Tổng |
| Trong ĐDN |
Tại thành |
Ngoài thành |
CRNN |
| Trong ĐDN |
67 |
0 |
0 |
2 |
69 (62,7%) |
| Tại thành |
0 |
24 |
2 |
2 |
28 (25,5%) |
| Ngoài thành |
0 |
3 |
7 |
0 |
10 (9,1%) |
| CRNN |
1 |
1 |
1 |
0 |
3 (2,7%) |
| Tổng |
68 (61,8%) |
28 (25,5%) |
10 (9,1) |
4 (3,6%) |
110 |
| Kappa = 0,744 |
BÀN LUẬN Qua nghiên cứu trên 100 bệnh nhân có tắc đường dẫn niệu mạn tính chúng tôi ghi nhận: nhóm tuổi hay gặp nhât là nhóm tuổi 50 - 59 chiếm 26,0%, tuổi trung bình là 51. Như vậy, phần lớn các bệnh nhân được phát hiện tắc đường dẫn niệu mạn tính trong nghiên cứu có độ tuổi khá cao. Nam giới chiếm 53,0%, nữ giới chiếm 47,0%. So sánh với các nghiên cứu của các tác giả ở Huế chúng tôi nhận thấy có sự biến động về tỷ lệ của hai biến tuổi và giới. Tuy nhiên nhìn chung, nhóm tuổi thường gặp và tuổi tủng bình là ở độ tuổi trung niên. Với nguyên nhân ở độ tuổi này chủ yếu là nguyên nhân mắc phải thì bệnh nhân có thể phát hiện sớm hơn bằng việc kiểm tra sức khỏe định kỳ. Điều này chứng tỏ bệnh nhân quan tâm chưa đúng mức đến sức khỏe của mình. Đồng thời, đây còn là nhóm tuổi lao động của xã hội. Do đó, việc phát hiện và điều trị sớm hội chứng tắc nghẽn mạn tính có ý nghĩa quan trọng góp phần giảm những hậu quả nghiêm trọng mặt sức khỏe cho bệnh nhân và giảm gánh nặng bệnh tật cho xã hội.
Triệu chứng lâm sàng của tắc đường dẫn niệu rất đa dạng, không chỉ phụ thuộc vào nguyên nhân mà còn thời gian tắc nghẽn (cấp hay mạn tính), tính chất tắc nghẽn (một bên hay hai bên, tắc nghẽn hoàn toàn hay không hoàn toàn) và sự xuất hiện của biến chứng như nhiễm trùng đường niệu. Bệnh nhân có tắc nghẽn đường niệu mạn tính thường không có triệu chứng gì cho tới khi xuất hiện các triệu chứng của suy thận tiến triển như tăng huyết áp, phù [5], [68]. Như vậy, 30% bệnh nhân còn lại trong nhóm nghiên cứu của chúng tôi vào viện vì sốt, phù, tăng huyết áp hoặc được phát hiện tình cờ khi đi khám sức khỏe là khá phù hợp với trong bối cảnh của hội chứng tắc đường dẫn niệu mạn tính.
Về chức năng thận trong hội chứng tắc đường dẫn niệu mạn tính, chúng tôi nhận thấy đa số thận được khảo sát đều có ảnh hưởng về mặt chức năng. Sự chậm bài tiết của thận trong trường hợp tắc mạn tính là do sự phối hợp của hai yếu tố: thứ nhất là do sự tăng áp lực trong nang Bowman dẫn đến giảm áp suất lọc cầu thận (bình thường áp suất này là 10 mmHg), do đó làm giảm tốc độ lọc cầu thận, thứ hai là do sự chèn ép nhu mô lâu ngày làm hoại tử nhu mô dẫn đến giảm số lượng cầu thận, từ đó làm giảm áp suất lọc cầu thận [7], [8]. Trong tắc nghẽn đường dẫn niệu mạn tính thì mức độ chậm bài tiết thay đổi tùy nguyên nhân, thậm chí có thể không thấy bài tiết (thận câm) trên NĐTM [9]. Trong nghiên cứu của chúng tôi, tỷ lệ thận chậm bài tiết rất cao chiếm 95,5%, trong đó nhóm tắc nặng và rất nặng gặp nhiều nhất chiếm 36,4% và 10,9% chứng tỏ quá trình tắc mạn tính đã diễn ra trong một thời gian rất lâu và ảnh hưởng nhiều đến chức năng thận. Điều này cũng cho thấy tỷ lệ 93,5% thận chậm bài xuất trong nhóm nghiên cứu của chúng tôi cũng là phù hợp trong bối cảnh của sự tắc nghẽn mạn tính. Đậm độ nhu mô thận trong tắc đường dẫn niệu mạn tính tùy thuộc vào sự cung cấp máu, độ lọc cầu thận và chức năng của ống thận. Theo nghiên cứu của Pais V.M. và CS, dòng máu tới thận giảm 70% sau 24 giờ, sau 8 tuần giảm xuống còn 12%, lọc cầu thận giảm 50% sau 4 giờ, giảm 75% sau 12 giờ và 95% sau 24 giờ [6]. Như vậy, thời gian tắc nghẽn càng dài thì mức lọc cầu thận càng giảm và lưu lượng máu tới thận càng giảm. Hiện tượng này giải thích cho sự tình trạng giảm đậm độ mô thận cản quang trong tắc đường dẫn niệu mạn tính trên NĐTM.
Về hình thái của thận trong tắc đường dẫn niệu mạn tính, chúng tôi ghi nhân: giãn đài bể thận chủ yếu là độ II và độ III. Giãn đài bể thận là dấu hiệu hình ảnh đặc trưng nhất cho tắc đường dẫn niệu mạn tính [7], [9]. Điều này được giải thích là khi sự tắc nghẽn trở nên tương đối ổn định hoặc giai đoạn cấp có cường độ giảm đi một phần thì áp lực vẫn duy trì và âm thầm tăng lên một cách liên tục. Đường bài niệu thích nghi bằng cách giãn nở lòng ống để bù sự gia tăng áp lực và bảo vệ nhu mô [9]. Trong nhóm nghiên cứu của chúng tôi thận ứ nước độ II, III chiếm tỷ lệ khá cao, điều này chứng tỏ hiện tượng tắc đã xảy ra trong một thời gian dài, làm lồi các đáy đài thận, teo các nhú thận và mất dấu ấn lên đài thận kèm giãn lớn bể thận.
Thận teo mỏng nhu mô chiểm tỷ lệ khá cao trong nghiên cứu của chúng tôi (51,8% trên siêu âm). Trong tắc đường dẫn niệu mạn tính thì bề dày nhu mô thận bị teo do các cơ chế: các ống thận và đường bài xuất bị ứ trệ nước tiểu và căng giãn chèn ép trực tiếp lên nhu mô thận; nhu mô thận bị thiếu máu cục bộ, hoại tử do các tiểu động mạch đến bị chèn ép, co thắt; thêm vào đó còn có tình trạng xơ hóa của nhu mô nhất là khi có bội nhiễm vi khuẩn. Teo nhu mô thận lúc đầu xảy ra ở phần tủy, sau đó ở phần vỏ. Ban đầu, chúng tạo ra sự giãn sau đó là teo các ống thận, tạo thành xơ kẽ kèm giảm số lượng cầu thận, do đó làm giảm độ lọc cầu thận [7], [9]. Như vậy, sự teo nhu mô thận có ảnh hưởng tới sự suy giảm chức năng lọc cầu thận, điều này giải thích cho mối tương quan nghịch mức độ vừa giữa bề dày nhu mô thận với thời gian bài tiết trong nghiên cứu của chúng tôi.
Nghiên cứu của chúng tôi cũng ghi nhận có mối tương quan thuận mức độ vừa giữa độ giãn trên siêu âm và mức độ chậm bài tiết trên NĐTM. Kết quả này khác với nghiên cứu của các tác giả trong và ngoài nước. Có thể bệnh nhân trong nhóm nghiên cứu của chúng tôi vào viện khi sự tắc nghẽn đã xảy ra trong một thời gian dài, làm đài bể thận giãn lớn kèm theo teo mỏng nhu mô nhiều (thận ứ nước độ III chiếm 58,2% và 51,8% thận có nhu mô teo mỏng) gây ảnh hưởng tới chức năng thận.
Siêu âm tuy nhạy trong trong chẩn đoán giãn đài bể thận nhưng người ta vẫn ghi nhận 1 tỷ lệ âm tính giả trong trường hợp thận ứ nước nhẹ [2]. NĐTM là kỹ thuật cho phép chẩn đoán giãn đài bể thận ngay từ rất sớm dựa vào sự thay đổi hình dáng của góc tiểu đài [1]. Do đó trong nghiên cứu này, NĐTM đã bổ sung cho siêu âm 1 trường hợp giãn đài bể thận. Tuy nhiên, hạn chế rất lớn của NĐTM là phụ thuộc vào chức năng thận, do vậy có 12/110 thận bị câm nên không thể đánh giá được bằng NĐTM dù kết quả chẩn đoán của siêu âm là thận ứ nước độ II và độ III. Điều này giải thích cho sự phù hợp mứcđộ vừa trong chẩn đoán độ giãn đài bể thận trên siêu âm và niệu đồ tĩnh mạch (Kappa = 0,478).
Siêu âm là lựa chọn đầu tiên để phát hiện nguyên nhân tắc nghẽn. Siêu âm có thể chẩn đoán sỏi (cả sỏi cản quang và không cản quang) dưới dạng là một cấu trúc tăng âm mạnh, có bóng lưng sau nằm trong đường dẫn niệu giãn. Siêu âm cũng phát hiện và cho biết bản chất của tổn thương thấy trên NĐTM là dạng đặc hay dạng nang, giúp chẩn đoán sơ bộ tính chất lành tính hay ác tính dựa vào Doppler [2], [7]. Trong nghiên cứu này, siêu âm cũng giúp chẩn đoán bổ sung nguyên nhân tắc nghẽn cho NĐTM trong trường hợp thận câm. Tuy nhiên như đã trình bày ở trên, siêu âm cũng có những hạn chế: khi kích thước viên sỏi nhỏ tỷ lệ âm tính giả là khá cao. Một hạn chế khác nữa của siêu âm là khảo sát nguyên nhân tắc ở niệu quản đoạn 1/3 giữa, nơi bị cản trở bởi hơi trong khung đại tràng lên và đài tràng xuống. Với những hạn chế của siêu âm như vậy thì có thể bổ sung bằng NĐTM).
KẾT LUẬNTừ các đặc điểm lâm sàng cũng như các đặc điểm hình ảnh trên siêu âm và NĐTM của hội chứng tắc đường dẫn niệu mạn tính chúng tôi thấy rằng: đặc điểm lâm sàng của hội chứng này là không điển hình, bệnh nhân có thể phát hiện bệnh với nhiều lý do khác nhau hoặc chỉ do phát hiện tình cờ. Điều đó cho thấy vai trò của chẩn đoán hình ảnh trong việc phát hiện, chẩn đoán xác định, chẩn đoán nguyên nhân, vị trí tắc cũng như góp phần đánh giá các hậu quả về mặt hình thái, chức năng và biến chứng do tắc đường dẫn niệu mạn tính gây nên.
Siêu âm và NĐTM là hai phương tiện cơ bản trong khảo sát tắc đường dẫn niệu mạn tính. Với những ưu và nhược điểm như đã phân tích thì mỗi kỹ thuật có vai trò khác nhau trong chẩn đoán tắc đường dẫn niệu mạn tính. Để chẩn đoán chắc chắn và cung cấp những thông tin trên một cách đầy đủ nhất thì cần có sự kết hợp của cả hai kỹ thuật này. Trong trường hợp tắc mạn tính, chức năng thận suy giảm nhiều, thậm chí là thận câm thì sự phối hợp giữa hai kỹ thuật càng cần thiết hơn và đôi khi cần phải bổ sung thêm xét nghiệm khác như CLVT hay cộng hưởng từ.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
- Hoàng Minh Lợi, Lê Trọng Khoan (2011), “Chẩn đoán hình ảnh hệ tiết niệu”, Giáo trình chẩn đoán hình ảnh dùng cho các đối tượng đại học, Nhà xuất bản Đại học Huế, tr.95-122.
- Nguyễn Phước Bảo Quân (2010), “Thận - hệ thống tiết niệu trên”, Siêu âm bụng tổng quát, Nhà xuất bảnThuận Hóa, tr.521-613.
- Ellenbogen P.H., Schieble P.H, Talner L.B., Leopold G.R. (1978), “Sensitive of gray scale ultrasound in detecting urinary tract obstruction”, AJR, (130), pp.731-733.
- Dyer R.B., Chen M.Y.M., Zagoria R.J. (2001), “Intravenuos urography: Technique and interpretation”, RadioGraphics, (21), pp.799-824.
- Klahr S. (2007), “Urinary tract obstruction”, Diseases of the kidney and urinary tract, Lippincott Williams and Wilkins, pp.690-712.
- Pais V.M., Strandhoy J.W., Assimos D.G. (2007), “Pathophysiology of urinary tract obstruction”, Campbell-Walsh Urology, Saunders, 1.
- Quaia E. (2011), “Ultrasound of the kidney”, Radiological Imaging of the Kidney, Spinger, pp.90-101.
- Vaughan E.D., Felsen D., Gulmi F.A. (2001), “Obstructive nephropathy”, Medical management of kidney and electrolyte disorders, Marcel Dekker, pp.425-443.
- Lemaitre L., Claudon M., Fauquet I., Delomez J, Puech P. (2004), “Imagerie des obstructions chroniques et intermittentes de la voie excrétrice supérieure de l’adulte”, Journal de Radiologie, 85(2), pp.197-216.