Bs CK2 Trần Văn Trung- Bệnh viện tỉnh Bình Định
 
TÓM TẮT:
Nhiều nghiên cứu cho  thấy  xơ vữa động mạch là một yếu tố nguy cơ cao của đột quỵ não. Tuy nhiên nghiên cứu mối liên quan thang điểm HENRY và đường kính ổ nhồi máu não với các yếu tố nguy cơ của nhối máu não chưa nghiên cứu nhiều ở Việt Nam.
            Trong nghiên cứu này, 100 bệnh nhân (74 nam, 26 nữ) có độ tuổi trung bình là 68,87±11,16 năm được chẩn đoán xác định nhồi máu não bằng lâm sàng và bằng chụp cắt lớp vi tính và 100 bệnh nhân (80 nam và 20 nữ) không có các yếu tố nguy cơ nhồi máu não không có dấu hiệu nhồi máu não trên chụp CLVT ( nhóm chứng) có độ tuổi tương đương là 71,61±11,17
Kết quả nghiên cứu cho thấy:
- Trị số trung bình ở bệnh nhân nhồi máu não với BMI; huyết áp tâm thu; huyết áp tâm trương; độ dày trung bình động mạch cảnh chung, glucose máu; cholesterol TP; trigliceri; HDL; LDL-C (lần lượt là 22,91±1,78 kg/m²; 155,60±17,87 mmHg; 88,60±6,93 mmHg; 1,07±0,22mm ; 7,35±2,91mmol/l; 5,59±1,00mmol/l; 2,15±1,36mmol/l; 1,17±0,28mmol/l; 3,63±0,85 mmol/l) cao hơn nhóm chứng (lần lượt là 22,19±1,31 kg/m²; 126,85±11,27 mmHg; 79,40±5,82mmHg; 0,77±0,12mm ; 5,17±1,19mmol/l; 5,16±0,93mmol/l; 1,75±0,86mmol/l; 1,10mmol/l±0,22; 3,13±0,72 mmol/l). Sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p<0,05).
- Ở bệnh nhân nhồi máu não với thang điểm HENRY 4-5 có trị số trung bình và tỷ lệ có tăng BMI; huyết áp tâm thu;  huyết áp tâm trương; độ dày trung bình động mạch cảnh chung, cholesterol TP (lần lượt là 23,18±1,80  kg/m² và 57,7%; 159,79±17,28 mmHg và 88,7%; 90,28±6,70 mmHg và 78,9%; 1,10±0,21mm và 88,7% ; 5,86±1,01mmol/l và 83,1%) cao hơn nhóm HENRY 1-2-3 (lần lượt là 22,26±1,57 kg/m² và 34,5%; 145,34±15,11 mmHg và 69,1%; 84,48±5,72mmHg và 41,4%; 0,99±0,20mm và 69% ; 5,28±0,86mmol/l và 55,2% khác biệt có ý nghĩa thống kê (p<0,05).
- Ở bệnh nhân nhồi máu não với đường kính ổ nhồi máu não ≥3cm có trị số trung bình và tỷ lệ có tăng BMI; huyết áp tâm thu;  huyết áp tâm trương; độ dày trung bình động mạch cảnh chung, cholesterol TP; LDL-C, có hút thuốc lá (lần lượt là 23,40±1,78  kg/m² và 64,8%; 162,41±16,92 mmHg và 96,3%; 90,93±7,00 mmHg và 79,6%; 1,14±0,19mm và 96,3% ; 5,90±1,00mmol/l và 81,5%; 3,80±0,86 và 77,8%, 85,2%) cao hơn nhóm đường kính ổ nhồi máu não <3cm  (lần lượt là 22,34±1,61 kg/m² và 64,8%; 147,61±15,62 mmHg và 71,7%; 85,87±5,80mmHg và 54,3%; 0,98±0,20mm và 76,4% ; 5,54±0,89 mmol/l và 76,5%; 3,44±0,88 và 73%; 58,7% sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p<0,05).
Tóm lại có mối liên quan giữa một số yếu tố nguy cơ nhồi máu não với thang điểm HENRY và đường kính ổ nhồi máu não (p,0,05)
Từ khóa: Xơ vữa động mạch, đột quỵ não, thang điểm HENRY, đường kính ổ nhồi máu não
 
 
ABSTRACTS
Backgrounds: Some previous studies showed that atherosclerosis is a situation of high risk factors of cerebral stroke. However, research on the relationship between HENRY scale and diameter of cerebral infarction zone   with risk factors for cerebral infarction stroke have not been studied much in Vietnam.
Methods and Results: In this study, 100 patients (74 male, 26 female) with cerebral infarction stroke (patient group) who had an average age 68,87 ± 11,16 years was diagnosed with cerebral infarction identified clinically and by computed tomography. 100 patients (80 male, 20 female) with no risk factors atherosclerosis  with no signs of cerebral infarction idetified  by computed tomography (control group)  had simlar age average  68,87 ± 11,16 years .The Results as below:
- In patient cerebral infarction had average and prevalence percentage of BMI, systolic blood pressure,diastolic blood pressure ; carotid artery intimal-medial thickness (IMT), glucose blood; cholesterol ; triglicerit; HDL-C; LDL-C (22,91±1,78 kg/m²; 155,60±17,87 mmHg; 88,60±6,93 mmHg; 1,07±0,22mm ; 7,35±2,91mmol/l; 5,59±1,00mmol/l; 2,15±1,36mmol/l; 1,17±0,28mmol/l; 3,63±0,85 mmol/l, respectively ) in the patient group were higher than that control group (22,19±1,31 kg/m²; 126,85±11,27 mmHg; 79,40±5,82mmHg; 0,77±0,12mm ; 5,17±1,19mmol/l; 5,16±0,93mmol/l; 1,75±0,86mmol/l; 1,10mmol/l±0,22; 3,13±0,72 mmol/l, respectively) difference is statistically significant (p<0,05).
            - In patient cerebral infarction with HENRY4-5 group had average and prevalence percentage of BMI, systolic blood pressure, diastolic blood pressure ; carotid artery intimal-medial thickness (IMT), cholesterol    (23,18±1,80  kg/m² và 57,7%; 159,79±17,28 mmHg và 88,7%; 90,28±6,70 mmHg và 78,9%; 1,10±0,21mm và 88,7% ; 5,86±1,01mmol/l và 83,1% respectively) were higher than that HENRY 1-2-3 group (22,26±1,57 kg/m² và 34,5%; 145,34±15,11 mmHg và 69,1%; 84,48±5,72mmHg và 41,4%; 0,99±0,20mm và 69% ; 5,28±0,86mmol/l và 55,2%,  respectively) difference is statistically significant (p<0,05).
            - In patient cerebral infarction with diameter of cerebral infarction zone ≥3cm group had average and prevalence percentage of BMI; systolic blood pressure; diastolic blood pressure; carotid artery intimal-medial thickness (IMT); cholesterol LDL-C; smoking (23,40±1,78  kg/m² và 64,8%; 162,41±16,92 mmHg và 96,3%; 90,93±7,00 mmHg và 79,6%; 1,14±0,19mm và 96,3% ; 5,90±1,00mmol/l và 81,5%; 3,80±0,86 và 77,8%, 85,2%, respectively ) were higher than that diameter of cerebral infarction zone ≥3cm group (22,34±1,61 kg/m² và 64,8%; 147,61±15,62 mmHg và 71,7%; 85,87±5,80mmHg và 54,3%; 0,98±0,20mm và 76,4% ; 5,54±0,89 mmol/l và 76,5%; 3,44±0,88 và 73%; 58,7%,  respectively) difference is statistically significant (p<0,05).
ConclusionThere was a strongly relationship between HENRY scale and  diameter of cerebral infarction zone  with some risk factors for cerebral infarction stroke patients
Keywords: atherosclerosis carotid artery, cerebral infarction stroke, HENRY scale,  diameter of cerebral infarction zone.

1ĐẶT VẤN ĐỀ

Có nhiều yếu tố nguy cơ (YTNC) dẫn đến bệnh đột quỵ não, nhưng người ta chia thành hai nhóm chính: nhóm không thay đổi đươc như như: tuổi, giới tính, chủng tộc, di truyền…; nhóm có thể thay đổi được như  tăng huyết áp, béo phì, rối loạn lipid máu, đái tháo đường (ĐTĐ) type 2, hút thuốc lá, uống rượu, hoạt động tĩnh tại .Việc phát hiện các yếu tố nguy cơ giúp ta dự báo để có các biện pháp phòng ngừa biến chứng  gây ra. Đột quỵ não để lại nhiều di chứng nặng nề ảnh hưởng đến bản thân, gia đình và xã hội. Liệt là một biến chứng để lại  di chứng nặng nhất, mức độ tổn thương ổ nhồi máu trên chụp cắt lớp vi tính sọ não có thể giúp ta tiên lượng sự trầm trọng của bệnh. Mục tiêu đề tài:
  1.  Đánh giá một số  yếu tố nguy cơ bệnh nhân nhồi máu não
  2.   Xác định mối liên quan một số yếu tố nguy cơ  với mức độ liệt chi qua  thang điểm  HENRY và đường kính ổ nhồi máu trên C.T sọ não ở bệnh nhồi máu não.

2. ĐỐI TƯỢNG VÀ  PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN  CỨU                                                                                                                   

2.1 Đối tượng nghiên cứu: Nhóm bệnh 100 bệnh nhân qua khám lâm sàng và chụp CT sọ não để được chẩn đoán là nhồi máu não. Nhóm chứng 100 bệnh nhân không có bệnh lý nhồi máu não có dộ tuổi và giới tương đương vào điều trị  với các bệnh thông thường.
2.2. Phương pháp nghiên cứu
2.2.1. Thiết kế nghiên cứu :. Nghiên cứu tiến cứu, mô tả cắt ngang.
.  Tiêu chuẩn chon bệnh nhân nhồi máu não được chẩn đoán  xác định khi đáp ứng 2 tiêu chí chẩn đoán về lâm sàng theo tổ chức y tế thế giới và chẩn đoán qua chụp cắt lớp vi tính
*  Về lâm sàng:   Liệt nửa người, rối loạn ý thức, rối loạn ngôn ngữ, rối loạn cảm giác, liệt dây thần kinh VII trung ương, rối loạn cơ tròn, co giật kiểu động kinh.
           * Hình ảnh nhồi máu não: Phải nhìn thấy ổ tổn thương trên CT
            + Số ổ tổn thương: 1 ổ và > 1 ổ;    + Kích thước ổ nhồi máu < 3 cm và ≥ 3 cm
§¸nh gi¸ møc ®é liÖt cña chi theo 5 møc ®é (Henry vµ céng sù -1984) 

I- LiÖt nhÑ (b¹i) Søc c¬
4 ®iÓm
Gi¶m søc c¬, cßn vận động chủ động
II- LiÖt võa Søc c¬
3 ®iÓm
Cßn n©ng ®­îc chi lªn khái gi­êng
III- LiÖt nÆng Søc c¬
2 ®iÓm
Cßn co duçi chi khi cã t×
IV- LiÖt rÊt nÆng Søc c¬
1 ®iÓm
ChØ cßn biÓu hiÖn co c¬ chót Ýt
V- LiÖt hoµn toµn Søc c¬
0 ®iÓm
Kh«ng co c¬ chót nµo

+ Lượng giá mức độ liệt chi dựa vào thang điểm HENRY qua 2 loại:
  Loại 1 gồm: Mức 1; Mức 2; Mức 3 (Liệt nhẹ, liệt vừa, liệt nặng)
 Loại 2 gồm: Mức 4; Mức 5 (Liệt rất nặng và liệt hoàn toàn)
2.3. Xử lý thống kê:  Các thông số nghiên cứu được xử lý theo thuật toán thống kê sinh học ứng dụng trong y học trên phần mền SPSS 16.0.
 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU:
Bảng 3.1. Một số yếu tố nguy cơ

Chỉ tiêu Nhóm bệnhn =100 Nhóm chứngn =100 p
Tuổi (năm) 68,87±11,16 71,61±11,17 > 0,05
BMI (kg/m²) 22,91±1,78 22,19±1,31 < 0,05
Vòng bụng (VB)(cm) 84,61±6,03 82,68±4,42 < 0,05
Huyết áp tâm thu (HATT) (mmHg) 155,60±17,87 126,85±11,27 < 0,05
Huyết áp tâm trương (HATTr) (mmHg) 88,60±6,93 79,40±5,82 < 0,05
Độ dày nội trung mạc ĐMC TB (mm) 1,07±0,22 0,77±0,12 < 0,01
Glucose (mmol/l) 7,35±2,91 5,17±1,19 < 0,01
Cholesterol (mmol/) 5,59±1,00 5,16±0,93 < 0,01
Triglycerit (mmol/l) 2,15±1,36 1,75±0,86 < 0,05
HDL- C (mmol/l) 1,17±0,28 1,10±0,22 < 0,05
LDL- C (mmol/l) 3,63±0,85 3,13±0,72 < 0,05

Nhận xét: Chỉ số  các yếu tố nguy cơ  ở nhóm bệnh  tăng  hơn nhóm chứng.
3.2. MỐI LIÊN QUAN CÁC YẾU TỐ NGUY CƠ VỚI THANG ĐIỂM HENRY

Chỉ tiêu HENRY 4-5 n = 71 HENRY 1-2-3n = 29 p
HATT (mmHg) 159,79±17,28 145,34±15,11 <0,05
HATTr (mmHg) 90,28±6,70 84,48±5,72 <0,05
Tuổi (năm) 68,67±6,71 69,34±12,43 >0,05
BMI (kg/m²) 23,18±1,80 22,26±1,57 <0,05
Glucose máu (mmol/l) 7,22±2,62 7,69±2,54 >0,05
Cholesterol TP (mmol/l) 5,86±1,01 5,28±0,86 <0,05
Triglicerit (mmol/l) 2,53±1,52 1,66±0,64 <0,05
LDL-C (mmol/l) 3,70±0,88 3,46±0,74 >0,05
HDL-C (mmol/l) 1,10±0,12 1,11±0,21 >0,05
Độ dày NTM ĐMC (mm) 1,10±0,21 0,99±0,20 <0,05

Nhận xét: Có sự tăng BMI,   huyết áp tâm thu, huyết áp tâm trương,cholesterol, triglicerit và độ dày nội trung mạc ở nhóm bệnh nhân có Henry 4-5
3.3. MỐI LIÊN QUAN CÁC YẾU TỐ NGUY CƠ VỚI ĐƯỜNG KÍNH Ổ NHỒI MÁU

Chỉ tiêu ĐKỔNN ≥3cm               (n = 54) ĐKỔNM <3cm         n = 46 p
HATT (mmHg) 162,41±16,92  61±15,62 <0,05
HATTr (mmHg) 90,93±7,00 85,87±5,80 <0,05
Tuổi (năm) 70,54±11,09 66,91±11,04 >0,05
BMI (kg/m²) 23,40±1,78 22,34±1,61 <0,05
Glucose máu (mmol/l) 7,47±2,85 7,22±3,0 >0,05
Cholesterol TP (mmol/l) 5,90±1,00 5,45±0,894 <0,05
Triglicerit (mmol/l) 2,26±1,21 2,02±1,52 >0,05
LDL-C (mmol/l) 3,80±0,86 3,44±0,80 <0,05
HDL-C (mmol/l) 1,09±0,21 1,12±0,22 >0,05
Độ dày NTM ĐMC (mm) 1,14±0,19 0,98±0,20 <0,05

 
Nhận xét: Có sự tăng BMI, huyết áp tâm thu, huyết áp tâm trương, cholesterol, LDL-C  và độ dày nội trung mạc ở nhóm bệnh nhân có đường kính ổ nhồi máu ≥ 3cm.
BÀN LUẬN
4.1. Các yếu tố nguy cơ  của đối tượng nghiên cứu
- Trong nghiên cứu chúng tôi huyết áp tâm thu trung bình là 155,60 ± 17,87 mmHg, huyết áp tâm trương trung bình là 88,60 ± 6,93mmHg, huyết áp tâm thu ≥ 140 mmHg là 83%, huyết áp tâm trương ≥ 90 là 62%, tỷ lệ này cũng tăng cao ở nghiên cứu Nguyễn Đức Hải [1] khi nghiên cứu 42 bệnh nhân nhồi máu não tăng huyết áp tâm thu là 76,2%. Theo Lê Thúy Phượng [7] nghiên cứu 399 người nhồi máu não thì huyết áp tâm thu trung bình là 142,17 ± 21,0 mmHg, huyết áp tâm trương là 87,44 ± 13,5 mmHg. Theo Lê Thị Thu Trang [11] khi nghiên cứu vai trò các yếu tố nguy cơ và lâm sàng giai đoạn cấp của bệnh tai biến mạch máu não qua 79 trường hợp nhồi máu não và 30 trường hợp xuất huyết não thì huyết áp tâm thu trung bình là 151,5 ± 26,8 mmHg, huyết áp tâm trương trung bình là 85,6 ± 12,3 mmHg, tỷ lệ tăng huyết áp tâm thu cao ở nhóm xuất huyết não; còn nghiên cứu của Nguyễn Văn Tâm [8] qua 39 trường hợp nhồi máu não và 38 trường hợp chảy máu não thì tăng huyết áp tâm thu cao ở nhóm nhồi máu não và tăng huyết áp tâm trương tăng ở nhóm xuất huyết não.Như vậy ở bệnh nhân bị nhồi máu não có tỷ lệ tăng huyết áp tâm thu và tâm trương cao hơn nhóm chứng- Tăng đường máu làm xơ vữa động mạch dễ phát triển là một trong những nguy cơ cao cho bệnh lý mạch máu não. Trong nhiên cứu chúng tôi nồng độ đường máu trung bình là 7,35 ± 2,91 mmol/l và tỷ lệ tăng đường máu chiếm 47% so với Lê Thị Thu Trang [11] là 32,91%, Nguyễn Đức Hải [1] là 9,5%. Trong giai đoạn đầu đột quỵ có tăng đường máu, có thể do bệnh có đái đường tiềm tàng trước đó, glucose tăng cao là một tiên lượng xấu. Bệnh nhân đột quỵ não có biểu hiện tăng đề kháng insulin và có sự rối loạn chức năng tiết insulin ở tế bào beta, song khi có kèm theo các yếu tố nguy cơ như tăng huyết áp, béo phì, hội chứng chuyển hóa thì nguy cơ sẽ làm tăng thêm mức đề kháng insulin Rối loạn lipid máu: Nghiên cứu chúng tôi nồng độ trung bình cholesterol TP 5,59 ± 1,00 mmol/l, tỷ lệ tăng cholesterol là 75%, nồng độ trung bình triglycerit là 2,15 ± 1,36 mmol/l, tỷ lệ tăng triglycerit là 63%, nồng độ trung bình  HDL là 1,17 ± 0,28 mmol/l, tỷ lệ HDL < 1 là 11 %, nồng độ trung bình LDL  là 3,63 ± 0,85 mmol/l, tỷ lệ tăng LDL là 71%.
 - Theo Lê Thị Thu Trang [11] qua 106 trường hợp đột quỵ não có tăng cholesterol chiếm 42,2%, tăng LDL là 47,71%, tăng triglycerit là 54,13%, giảm HDL là 73,39%, Nguyễn Đức Hải [8] có rối loạn  lipid chiếm 59,5% , như vậy qua các nghiên cứu trên cho thấy có sự khác nhau về tăng tỷ lệ các thành phần lipid máu, song điều này có lẽ do bệnh nhân đã điều trị hạ lipid máu trước nên khó đánh giá chính xác được, tuy nhiên các nghiên cứu trên đều có sự tăng cao các thành phần lipid máu ở bệnh nhân nhồi máu não. cho thấy BMI là 22,91 ± 1,78 kg/m², tỷ lệ có BMI ≥ 23 là 51%, BMI của nam 23,28 ± 1,63 kg/m², BMI của nữ là 21,89 ± 1,80 kg/m². Lê Thị Thu Trang qua 79 ca nhồi máu não thì BMI là 20,74 ± 2,35 kg/m²
4.3. Liên quan  thang điểm Henry và đường kính ổ nhồi máu (ĐKỔNM) bệnh nhân nhồi máu não với huyết áp.
          Kết quả cho thấy ở Henry 4-5 thì huyết áp tâm thu là 159,79± 17,28 mmHg, Henry 1-2-3 là 145,34 ± 15,11mmHg (p<0,05),  Henry 4-5 huyết áp tâm trương là 90,28±6,70 mmHg, Henry 1-2-3 là 84,48 ± 5,72 mmHg (p<0,05). Nhóm có tăng huyết áp tâm thu  ở Henry 4-5 là 88,7% và  tỷ lệ có tăng huyết áp tâm thu cao gấp 3,54 lần có ý nghĩa thống kê so với nhóm không tăng huyết áp tâm thu; Nhóm có tăng huyết áp tâm trương  ở Henry 4-5 là 78,9% và  tỷ lệ có tăng huyết áp tâm trương cao gấp 5,28 lần có ý nghĩa thống kê so với nhóm không tăng huyết áp tâm trương.
          Kết quả  cho thấy bệnh nhân có ĐKỔNM ≥3cm thì huyết áp tâm thu là 162,41± 16,92 mmHg, ĐKỔNM <3cm là 147,61 ± 15,62mmHg (p<0,05), ĐKỔNM ≥3cm  huyết áp tâm trương là 90,93±7,0 mmHg, ĐKỔNM<3cm là 85,87± 5,80 mmHg (p<0,05). Nhóm có tăng huyết áp tâm thu ĐKỔNM ≥3cm là 96,3% và  tỷ lệ có tăng huyết áp tâm thu cao gấp 4,92 lần có ý nghĩa thống kê so với nhóm không tăng huyết áp tâm thu; Nhóm có tăng huyết áp tâm trương  ở ĐKỔNM ≥3cm là 79,6% và  tỷ lệ có tăng huyết áp tâm trương cao gấp 3,28 lần có ý nghĩa thống kê so với nhóm không tăng huyết áp tâm trương. Như vậy ở bệnh nhân có Huyết áp tâm thu, tâm trương tăng cao thì nguy cơ liệt nặng và kích thước ổ nhồi máu lớn hơn, yếu tố nguy cơ nhồi máu não tăng cao là tăng huyết áp, vì tăng huyết áp dễ làm tổn thương nội mạc thành mạch do áp lực dòng máu mạnh hơn, vị trí nhồi máu gặp ở bao trong nhân xám trung ương chiếm tỷ tăng đây là vùng đường thần kinh điều khiển vận động bên đối diện đi qua cho nên thường gặp là liệt nặng và hoàn toàn.
4.4. Liên quan  thang điểm Henry, đường kính ổ nhồi máu (ĐKỔNM) bệnh nhân nhồi máu não với BMI
              Bệnh nhân nhồi máu não  ở Henry 4-5 thì  BMI là 23,18±1,80 kg/m² với  Henry1-2-3 là 22,26±1,57 kg/m (p<0,05). Nhóm có tăng BMI ở Henry 4-5 là 57,7% và  tỷ lệ có tăng BMI cao gấp 2,47 lần có ý nghĩa thống kê so với nhóm không tăng BMI;
            Bệnh nhân nhồi máu não có ĐKỔNM ≥3cm thì BMI là 23,40±1,78 kg/m², ĐKỔNM <3cm là 22,34±1,61 kg/m² (p<0,05), Nhóm có tăng BMI≥ 23 có ĐKỔNM ≥3cm là 64,8% và  tỷ lệ có BMI≥23 cao gấp 3,48 lần có ý nghĩa thống kê so với nhóm BMI<23 . Qua nhận xét trên ta thấy ở bệnh nhân nhồi máu não mà có BMI≥23 thì mức độ liệt Henry 4-5 và trên C.T có đường kính ổ nhồi máu ≥ 3cm chiếm tỷ lệ cao
4.5. Liên quan  thang điểm Henry, đường kính ổ nhồi máu ở bệnh nhân nhồi máu não với độ dày nội trung mạc động mạch cảnh (NTMĐMC)
   Bệnh nhân nhồi máu não ở Henry 4-5 thì  NTMĐMC là 1,10±0,21mm và  Henry 1-2-3 là 0,99±0,22mm (p<0,05). Nhóm có tăng NTMĐMC ở Henry 4-5 là 88,7% và  tỷ lệ có tăng NTMĐMC cao gấp 3,54 lần có ý nghĩa thống kê so với nhóm không tăng NTMĐNC; bệnh nhân nhồi máu não ở ĐKỔNM≥3cm thì  NTMĐMC là 1,14±0,19mm và  ĐKỔNM< 3cm là 0,98±0,20mm (p<0,05). Nhóm có tăng NTMĐMC ở ĐKỔNM≥ 3cm là 96,3% và  tỷ lệ có tăng NTMĐMC cao gấp 12,58 lần có ý nghĩa thống kê so với nhóm không tăng NTMĐNC. Dày lớp nội mạc thường ở đoạn thẳng không tạo nhánh như động mạch cảnh đoạn xa. Do cơ chế khác nhau nên yếu tố nguy cơ ảnh hưởng không giống nhau lên nội trung mạc và mảng xơ vữa động mạch cảnh, tuy nhiên độ dày nội trung mạc và mảng xơ vữa tại chổ cùng có những yếu tố nguy cơ chung, điều đó cho thấy độ dày nội trung mạc có thể là một đáp ứng sớm trong khi mảng xơ vữa là một biểu hiện muộn của tiến trình xơ vữa và sự dày lên nội mạc động mạch cảnh có thể làm lưu lượng máu đến não ít và góp phần ổ nhồi máu não có đường kính lớn hơn và liệt nặng hơn.
4.6. Liên quan  thang điểm Henry, đường kính ổ nhồi máu  bệnh nhân nhồi máu não với rối loạn Lipid máu.
  Bệnh nhân nhồi máu não ở Henry 4-5 thì  cholesterol là 5,86±1,01mmol/l với Henry1-2-3 là 5,28±0,86 mmol/l (p<0,05). Nhóm có tăng cholesterol ở Henry 4-5 là 83,1% và  tỷ lệ có tăng cholesterol cao gấp 3,99 lần có ý nghĩa thống kê so với nhóm không tăng cholesterol (p<0,05)
- Triglycerit ở Henry 4-5 là 2,53±1,52mmol/l với Henry1-2-3 là 1,66±0,64 mmol/l (p<0,05). Nhóm có tăng triglycerit ở Henry 4-5 là 66,2% và  tỷ lệ có tăng triglycerit cao gấp 1,59 , không có ý nghĩa thống kê so với nhóm không tăng triglycerit (p>0,05)
- LDL-C ở Henry 4-5 là 3,70±0,88mmol/l với Henry1-2-3 là 3,46±0,74 mmol/l (p<0,05). Nhóm có tăng LDL-C ở Henry 4-5 là 76,1% và  tỷ lệ có tăng LDL-C cao gấp 2,24 tuy nhiên  không có ý nghĩa thống kê so với nhóm không tăng LDL-C (p>0,05)
- HDL-C ở Henry 4-5 là 1,100±0,12mmol/l với Henry1-2-3 là 1,11±0,21mmol/l (p>0,05). Nhóm có tăng HDL-C ở Henry 4-5 là 8,5% và  tỷ lệ có tăng HDL-C cao gấp 0,44 tuy nhiên  không có ý nghĩa thống kê so với nhóm không tăng HDL-C (p>0,05)
 Bệnh nhân nhồi máu não ở ĐKỔNM≥3cm thì  cholesterol là 5,90±1,00mmol/l với ĐKỔNM<3cmlà 5,45±0,89 mmol/l (p<0,05). Nhóm có tăng cholesterol ở ĐKỔNM≥3cm là 81,5% và  tỷ lệ có tăng cholesterol cao gấp 2,12 (p>0,05)
- Triglycerit ở ĐKỔNM≥3cm là 2,26±1,21mmol/l với ĐKỔNM<3cm là 2,26±1,21 mmol/l (p>0,05). Nhóm có tăng triglycerit ở ĐKỔNM≥3cm là 63% và  tỷ lệ có tăng cholesterol cao gấp 0,9 (p>0,05)
- LDL-C ở ĐKỔNM≥3cm là 3,80±0,86mmol/l với ĐKỔNM<3cmlà 3,44±0,80 mmol/l (p<0,05). Nhóm có tăng LDL-C ở ĐKỔNM≥3cm là 77,8% và  tỷ lệ có tăng LDL-C cao gấp 2,05 (p>0,05)
- Giảm HDL-C ở ĐKỔNM≥3cm là 1,09±0,21mmol/l với ĐKỔNM<3cmlà 1,12±0,22 mmol/l (p>0,05). Nhóm có giảm HDL-C ở ĐKỔNM≥3cm là 9,3%% và  tỷ lệ có giảm HDL-C cao gấp 0,68 (p>0,05)
4.7. Liên quan  thang điểm Henry, đường kính ổ nhồi máu  bệnh nhân nhồi máu não với glucose máu.
- Glucose máu ở Henry 4-5 là 7,22±2,62mmol/l với Henry1-2-3 là 7,69±2,54 mmol/l (p>0,05). Nhóm có tăng glucose ở Henry 4-5 là 43,7% và  tỷ lệ có tăng glucose cao gấp 0,63 tuy nhiên  không có ý nghĩa thống kê so với nhóm không tăng glucose (p>0,05)
- Glucose máu ở ĐKỔNM≥3cm là 7,47±2,85mmol/l với ĐKỔNM<3cm là 7,22±3,0 mmol/l (p>0,05). Nhóm có tăng glucose ở ĐKỔNM≥3cm là 48,1% và  tỷ lệ có tăng glucose cao gấp 1,10 (p>0,05)
Như chúng ta biết glucose máu tăng cao thường sảy ra trong giai đoạn cấp của nhồi máu não Có nhiều công trình nghiên cứu đã chứng minh rằng đái đường là yếu tố gây ra các thể tai biến mạch máu não, Tăng đường máu kéo dài tác động đến hệ thống mạch máu não. Bệnh nhân đái đường có sự tiến triển của bề dày lớp nội trung mạc của động mạch cảnh, nhiều tổn thương xơ vữa các động mạch trong và ngoài sọ và đặc biệt liên quan đến sự tắc nghẽn nhiều động mạch nhỏ, tác động đến nhiều tiểu động mạch đi vào trong não. Tuy nhiên sự tăng đường máu không có liên quan đến mức độ liệt nặng của bệnh nhân và kích thước ổ nhồi máu.
4.8. Liên quan  thang điểm Henry, đường kính ổ nhồi máu  bệnh nhân nhồi máu não với hút thuốc lá
- Nhóm có hút thuốc lá ở Henry 4-5 là 77,5% và  tỷ lệ có hút thuốc lá cao gấp 2,10 tuy nhiên  không có ý nghĩa thống kê so với nhóm không hút thuốc lá (p>0,05)
- Nhóm có hút thuốc lá ở ĐKỔNM≥3cm là 85,2% và  tỷ lệ có hút thuốc lá cao gấp 4,04 khác biệt có ý nghĩa thống kê so với nhóm không hút thuốc lá (p<0,05)
Thuốc lá làm biến đổi nồng độ lipid máu mà quan trọng là giảm yếu tố bảo vệ HDL, tăng fibrinogen, tăng tính đông máu, tăng độ nhớt máu, tăng kết dính tiểu cầu, có mối liên quan giữa  số lượng thuốc lá hút với nhồi máu não. Hút thuốc lá là nguy cơ đột quỵ não, nhiều nghiên cứu cho thấy nếu ngưng trên 2 năm thì thì đột quỵ sẽ giảm rõ rệt  cho nên ngừng hút thuốc là vô cùng cần thiết để phòng ngừa đột quỵ não.
KẾT LUẬN
- Chỉ số trung bình, tỷ lệ tăng các yếu tố nguy cơ như BMI, huyết áp tâm thu, huyết áp tâm trương, độ dày nội trung mạc động mạch cảnh, đường máu, cholesterol, triglycerit, HDL-C, LDL-C ở nhóm nhồi máu não tăng cao hơn nhóm chứng (p<0,05)
  Trị số trung bình, tỷ lệ tăng của tăng huyết áp tâm thu, tâm trương, BMI, cholesterol TP, triglycerit, độ dày nội trung mạc động mạch cảnh chung ở nhóm nhồi máu não có mức liệt chi theo thang điểm HENRY 4-5  tăng cao hơn ở nhóm nhồi máu não có  mức liệt chi theo thang điểm HENRY 1-2-3 sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p<0,05).
-  Trị số trung bình, tỷ lệ tăng của tăng huyết áp tâm thu, tâm trương, BMI, cholesterol TP, LDL-C, độ dày nội trung mạc động mạch cảnh chung ở nhóm nhồi máu não có đường kính ổ nhồi máu não ≥3cm  tăng cao hơn ở nhóm có  đường kính ổ nhồi máu não <3cm khác biệt có ý nghĩa thống kê (p<0,05).
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Tiếng việt .
1) Nguyễn Đức Hải và Nguyễn Hồng Ngọc(2002): Đánh giá vữa xơ động mạch cảnh đoạn ngoài sọ bằng siêu âm Dopller trên bệnh nhân nhồi máu não”. Tạp chí tim mạch học số 29 năm 2002. Trang 450.
2) Lê Đức Hinh và nhóm chuyên gia (2007): “Tai biến mạch máu não” Nhà xuất bản y học 2007.
 3)  Phạm Thị Hường (2009): “Khảo sát về một số yếu tố liên quan đến tử vong của bệnh nhân tai biến mạch máu não tại Bệnh viện Thanh Nhàn Hà Nội” Tạp chí Nội khoa số 1/2009 Trang 488 - 493.
 4)   Hoàng Khánh và Nguyễn Hải Thuỷ (2009): “Bệnh mạch máu và Đái tháo đường” Tạp chí nội khoa số 1/2009 Trang 93 - 107.
           5)  Phan Thị Diệu Linh (2009):“Tìm hiểu một số yếu tố nguy cơ liên quan đến đột quỵ tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Khánh Hoà” -Tạp chí Nội Khoa 1/2009  Tr 518 - 524.
            6) Tô Hoàng Linh (2006): “Nghiên cứu tác dụng lâm sàng của thuốc phục não trong điều trị nhồi máu não cấp”
7) Lê Thúy Phượng ( 2009) “Tăng huyết áp ở người tai biến mạch máu não lớn tuổi’’ Tạp chí nội khoa số 3/2009 Trang 405 - 412.
8) Nguyễn Văn Tâm (2001): “Đánh giá điểm số đột quỵ SIRIRAJ trong chẩn đoán nhồi máu não và chảy máu não trên liều
Luận văn thạc sĩ y khoa - ĐHY Hà Nội - 2001.
            9) Đinh Văn Tâm (2005): “Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và các yếu tố nguy cơ của thiếu máu cục bộ não cấp”
             10) Đinh Văn Thắng và cs (2009) “Tình hình tai biến mạch máu não trong 10 năm tại Bệnh viện Thanh Nhàn Hà nội’’- Tạp chí Nội khoa 1/2009 Trang 512 - 516
             11) Lê Thị Thu Trang (2009) “Nghiên cứu vai trò các yếu tố nguy cơ và đặc điểm lâm sàng giai đoạn cấp của tai biến mạch máu não tại BV tỉnh Khánh Hòa
12) Hoàng Trung Vinh và cs (2009) “Biến đổi nồng độ glucose máu ở bệnh nhân đột quỵ não trong giai đoạn cấp” Y học thự hành số 673 - 674 tháng 8/2009.
*Tiếng nước ngoài
13) AHH (2007) Clinical cardiac consult cardiovasculair disease’’ 
           14) Journal of hypertension 2003: “Guidelines Committee: 2003 Eropean society of hypertension- Eropean society of cardiology guidelines for the mangement of arterial hypertension’’.
            15) Kametsu Y, Kitagawa Y, Sekiyama S (2005): “Increase in plasma malondialdehyde-modified low-density lipoprotien in patients with altherothrombotic cerebral infarction”Tokai J Expcl

Tác giả bài viết :

Nguồn tin :