Viêm gan virus B  là một trong những bệnh truyền nhiễm có tần suất mắc cao và hiện nay đang là một vấn đề y tế rất được quan tâm trên toàn thế giới. Ước tính trên thế giới hiện có khoảng 2 tỷ người bị nhiễm virus viêm gan B, trong đó có 360-400 triệu người mang virus viêm gan B mạn tính. Việt Nam nằm trong khu vực có tỷ lệ nhiễm virus viêm gan B rất cao từ 15- 20%.
 Theo báo cáo của Tổ chức Y tế thế giới (WHO), mỗi năm có khoảng 2 triệu người nhiễm virus viêm gan B mạn tử vong do xơ gan và ung thư gan nguyên phát. Mặc dù chương trình tiêm ngừa virus viêm gan B (HBV) đã làm giảm đáng kể tỷ lệ bệnh viêm gan do virus B, nhưng HBV vẫn còn là một “Kẻ giết người thầm lặng” vì đôi khi triệu chứng của bệnh rất mơ hồ, rất dễ lầm tưởng với một trường hợp rối loạn tiêu hóa hay gặp, đa số trường hợp không có triệu chứng lâm sàng ở những trường hợp viêm gan virus B mạn tính mà chỉ có xét nghiệm máu chúng ta mới chẩn đoán được bệnh. Do đó, vai trò của xét nghiệm trong chẩn đoán viêm gan do virus B giữ một vị trí cực kỳ quan trọng. Có nhiều loại xét nghiệm khác nhau được sử dụng trong chẩn đoán viêm gan virus B, tùy thuộc vào từng giai đoạn mà căn cứ vào đó, bác sĩ sẽ đưa ra xét nghiệm thích hợp với bệnh nhân.
Trong những thập kỷ cuối của thế kỷ 20, sự ra đời của sinh học phân tử đã đem lại những đột phá về mặt công nghệ, tạo ra các phương tiện có giá trị cao để sử dụng trong chẩn đoán các bệnh về vi sinh vật nói chung cũng như các bệnh lý về viêm gan virus nói riêng, nhờ đó mà có rất nhiều bệnh được điều trị triệt để. Ngày nay, việc ứng dụng sinh học phân tử trong chẩn đoán bệnh viêm gan virus B mạn ngày càng trở nên quan trọng, và đã trở thành các chỉ định xét nghiêm bặt buộc trong điều trị viêm gan virus B mạn tính. Trong những năm gần đây, nhờ sự tiến bộ trong lĩnh vực sinh học phân tử, các nhà khoa học trên thế giới đã chứng minh vai trò quan trọng của HBV DNA và kiểu gen của virus viêm gan B đối với bệnh viêm gan virus B. Kể từ khi Okamoto và cộng sự ở Nhật Bản phát hiện ra 4 kiểu gen của virus viêm gan B năm 1988 thì đến nay các nhà khoa học đã tìm ra 10 kiểu gen khác nhau của virus viêm gan B và được ký hiệu từ A đến J.
Nhiều công trình nghiên cứu đã cho thấy rằng định lượng HBV DNA có liên quan đến tiến triển của bệnh viêm gan virus B. Tỷ lệ xơ gan, ung thư gan gia tăng khi định lượng virus gia tăng và khi làm giảm lượng virus sẽ giảm được nguy cơ bệnh tiến triển đến xơ gan, ung thư gan và tử vong. Các kiểu gen của virus viêm gan B có liên quan đến khả năng tiến triển từ cấp tính sang mạn tính, liên quan với những biến đổi về sinh hóa, huyết học, chẳng hạn liên quan với hoạt độ transaminase. Liên quan với sự xuất hiện, chuyển đổi HBeAg và với định lượng HBV DNA. Ví dụ kiểu gen C và D có tỷ lệ chuyển đổi huyết thanh từ HBeAg sang Anti-HBe thấp hơn so với kiểu gen A và B. Các kiểu gen của HBV cũng có liên quan đến một số bệnh cảnh lâm sàng đặc biệt như xơ gan và ung thư gan. Các kiểu gen cũng là yếu tố dự báo khả năng có đáp ứng với điều trị bằng các thuốc kháng virus (Interferon, lamivudine …) của bệnh viêm gan virus B.   
 
 Hình ảnh viêm gan mạn, xơ gan và ung thư gan

Cùng với các ứng dụng kỹ thuật sinh học phân tử ở các Bệnh viện lớn trong cả nước như Bệnh viện Bạch Mai, Bệnh viện Trung Ương Huế, Trung tâm Medic TP. Hồ Chí Minh… trong chẩn đoán và điều trị các bệnh lý vi sinh học và ký sinh trùng học, từ cuối năm 2009, Bệnh viện đa khoa Bình Định cũng đưa kỹ thuật này vào chẩn đoán ở phương diện phân tử và áp dụng trong điều trị đặc biệt bệnh viêm gan virus B mạn tính. Theo kết quả nghiên cứu của chúng tôi trong 2 năm 2011-2012 trên 83 bệnh nhân viêm gan virus B mạn vào điều trị tại Khoa Truyền Nhiễm cho thấy 65,1% bệnh nhân có định lượng HBV DNA cao > 106 copies/mL. Kiểu gen chủ yếu là B và C trong đó kiểu gen B chiếm 81,9%. Nghiên cứu cũng cho thấy định lượng HBV DNA cao có liên quan với HBeAg dương tính và liên quan với tăng hoạt độ ALT. Kiểu gen B có định lượng HBV DNA cao hơn kiểu gen C, kiểu gen C có hoạt độ ALT cao hơn so với kiểu gen B.
Việc triển khai ứng dụng sinh học phân tử vào chẩn đoán và điều trị cũng như dự đoán đáp ứng với điều trị tại Bệnh viện đa khoa Bình Định đã đem đến nhiều lợi ích đáng kể cho các bệnh nhân trong tỉnh nhà. Trước đây, các bệnh nhân bị viêm gan virus B mạn phải vào TP Hồ Chí Minh để xét nghiệm và điều trị dẫn đến chi phí điều trị cao, chi phí đi lại nhiều lần khá tốn kém. Hiện nay chúng tôi đã triển khai một qui trình từ việc tiếp nhận, tư vấn, xét nghiệm và điều trị cho các bệnh nhân viêm gan virus B mạn được chuyển đến từ khắp nơi trong tỉnh. Việc điều trị bước đầu đã cho những kết quả rất tốt và thuận lợi khi người bệnh có bảo hiểm y tế được hưởng quyền lợi về xét nghiệm, tư vấn và cấp thuốc điều trị. Sắp tới chúng tôi tiếp tục định lượng và xác định kiểu gen của virus viêm gan C, triển khai điều trị bệnh viêm gan virus C mạn tại Bệnh viện.
Chúng tôi hy vọng rằng, ngày càng có nhiều bệnh nhân trong tỉnh được tiếp cận sớm với những kỹ thuật hiện đại này, được phát hiện sớm, được điều trị kịp thời để ngăn ngừa những biến chứng vô cùng nguy hiểm đó là xơ gan, ung thư gan do virus viêm gan B gây ra.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Đông Thị Hoài An, Phạm Thị Thu Hà, Phạm Hoàng Phiệt và cs (2007), “Xác định kiểu gen của siêu vi viêm gan B trên bệnh nhân xơ gan”, Y học TP. Hồ Chí Minh, 1, tr. 147-152.
        2. Trần Xuân Chương  (2011), “Cập nhật về các kiểu gen của HBV và ý nghĩa lâm sàng”, Tạp chí Y Dược học, 6, tr. 133-139.
       3. Nguyễn Công Long, Bùi Xuân Trường, Nguyễn Khánh Trạch, Nguyễn Trường Sơn (2008), “Nồng độ HBV-DNA cao liên quan đến kiểu gen C và bệnh gan nặng ở bệnh nhân Việt Nam nhiễm virus viêm gan B mạn tính”, Tạp chí Khoa học tiêu hóa Việt Nam, 3(11), tr. 669-673.
       4. Nguyễn Thị Thu Oanh (2012), “Nghiên cứu định lượng HBV DNA và kiểu gen của HBV ở bệnh nhân viêm gan virus B”, Luận án chuyên khoa II, Đại học Y Dược Huế.
      5. Phạm Hoàng Phiệt (2008), “Virus viêm gan B và Ung thư gan nguyên phát”, Ung thư gan nguyên phát, Nhà xuất bản Y học, tr. 44-57.
      6. Asimina F., Dimitrios P. et al (2011), “Molecular epidemiology of chronic hepatitis B virus infection in Greece”, J Med Virol, 83(2), pp. 245-252.
     7. Chan HLY. (2011), “Significance of hepatitis B virus genotypes and mutations in the development of hepatocellular carcinoma in Asia”. J Gastro Hepato, 26(1), pp. 8-12.
      8. Highleyman L. (2009), “High HBV DNA level is the strongest predictor of elevated ALT”, Digestive Disease Week.

Tác giả bài viết: BS.CKII Nguyễn Thị Thu Oanh

Nguồn tin: Khoa Truyền Nhiễm Bệnh viện Đa khoa tỉnh Bình Định

Tác giả bài viết :

Nguồn tin :