1. ĐẠI CƯƠNG 
Ung thư vú không những là một loại ung thư hay gặp nhất ở phụ nữ mà còn là nguyên nhân chính gây tử vong do ung thư đối với phụ nữ tại nhiều quốc gia trên thế giới.
Tỷ lệ tử vong thay đổi nhiều từ 25 – 35/100.000 dân tại Anh, Đan Mạch, Hà Lan, Hoa Kỳ và Canada đến 2 – 5/100.000 dân ở Nhật, Mehico, Venezuela [3].
Tỷ lệ mắc bệnh hàng năm tăng cao ở các nước Bắc Mỹ và châu Âu, trong khi ở các nước châu Á và châu Phi có xu hướng thấp hớn. Ở Hoa Kỳ trong năm 1993, đã có 182.000 ca ung thư vú mới mắc ở phụ nữ. Tỷ lệ hằng năm theo ước tính 100,2 ca mới / 100.000 dân. Từ năm 1973, tỷ lệ đã tăng trung bình hằng năm 1,8% [17].
Theo báo cáo của Tổ chức Y tế thế giới, ung thư vú đứng hàng thứ 2 tại các nước Đông Nam Á (sau ung thư phổi) và chiếm 20% trong tổng số các ung thư ở phụ nữ [17].
Tại Việt Nam, ung thư vú ngày càng có xu hướng tăng cao. Theo nghiên cứu ghi nhận ung thư của Phạm Hoàng Anh và Nguyễn Bá Đức (2002) ung thư vú đứng hàng đầu trong tất cả các loại ung thư phụ nữ và chiếm 15% tổng số các ung thư [1]. Bệnh viện K đã tiến hành ghi nhận quần thể cho ung thư vú trên người Hà Nội và công bố tỷ lệ mới mắc hàng năm là 29,8 / 100.000 dân vào năm 2000 [4]. Tính chung cả nước, ung thư vú vẫn đứng hàng thứ 2 trong số 10 loại ung thư hay gặp nhất ở phụ nữ với tỷ lệ 12,2% và đứng hàng thứ 6 trong tổng số ung thư chung cho cả 2 giới [4], [10].
Theo Nguyễn Mạnh Hùng và Lê Đình Roanh, đa số các trường hợp bệnh nhân được khám và điều trị tại Bệnh viện K Hà Nội đều ở giai đoạn muộn
(T1: 2%, T2: 43%, T3: 23% và T4: 32%) [11]. Ở nước ta hiện nay, việc ung thư vú chưa thống nhất về một phác đồ hoàn chỉnh. Kế hoạch điều trị tuỳ thuộc vào giai đoạn của bệnh, thường sử dụng kết hợp thay đổi giữa phẫu thuật, xạ trị và hoá trị, thỉnh thoảng mới chỉ định điều trị đơn độc.
Đã có những tiến bộ đáng kể khoảng 30 năm qua về sự hiểu biết căn bệnh ung thư vú. Sinh học của ung thư vú, các yếu tố nguy cơ và các yếu tố tiên lượng đã được phân định rõ hơn. Các nhà khoa học đã xác định được vài bất thường di truyền phân tử liên hệ đến sự phát triển của ung thư vú, liên hệ đến sự di căn và sự đáp ứng với trị liệu. Hiệu quả của việc chẩn đoán và các khả năng xử lý cũng được cải thiện. Ở các nước có nền y học tiên tiến, nhiều ung thư vú được chẩn đoán sớm, lúc đó nguy cơ tử vong giảm xuống khoảng 30%; phần lớn những người bệnh ung thư vú nguyên phát được xử lý liệu pháp tại chỗ bảo tồn vú, được bổ sung bằng liệu pháp toàn thân hỗ trợ (hoá trị và/ hoặc nội tiết), nhờ đó nguy cơ tử vong được giảm bớt từ 25 đến 50%; việc phòng ngừa ung thư vú đã có thành công bước đầu; một số thuốc mới hiệu quả hơn và ít độc tính hơn được đưa vào sử dụng.
Một cái nhìn tổng quan về các phương hướng hiện nay trong việc xử lý ung thư vú của phụ nữ thì rất cần cho các thầy thuốc chuyên khoa và thầy thuốc thực hành [6].
2. CÁC ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG
2.1. Tuổi của bệnh nhân
Những ý kiến về ý nghĩa tiên lượng của tuổi trong ung thư biểu mô tuyến vú rất khác nhau. Những phụ nữ dưới 50 tuổi vào thời điểm chẩn đoán có tiên lượng tốt nhất. Thời gian sống thêm tương đối giảm dần sau tuổi 50 và đặc biệt thấp ở những phụ nữ già hơn. Với những bệnh nhân dưới 50 tuổi, một số nghiên cứu cho thấy tiên lượng giống như ở những bệnh nhân nhiều tuổi hơn, trong khi những nghiên cứu khác cho thấy nguy cơ cao hơn có ý nghĩa với tái phát và di căn xa.
Nghiên cứu của Chung và cộng sự (1996) cho thấy những bệnh nhân ở tuổi 40 và trẻ hơn có tiên lượng xấu hơn ở những bệnh nhân tiền mãn kinh của Vilcoq và cộng sự (1993) cũng cho thấy những bệnh nhân trẻ hơn có tỷ lệ sống thêm 5 năm thấp hơn và tỷ lệ tái phát vùng và xa cao hơn ở những bệnh nhân già hơn. Solin và cộng sự (1995) đã so sánh tỷ lệ tử vong sau 10 năm giữa hai nhóm tuổi, nhóm từ 50 – 64 tuổi và nhóm lớn hơn hoặc bằng 65 tuổi, và thấy không có sự khác biệt giữa hai nhóm.
Nghiên cứu của Gogas và cộng sự (1993) cho biết nguy cơ phát sinh ung thư ở vú đối bên liên quan với tuổi của bệnh nhân [12].
Những nghiên cứu tại Việt Nam cho thấy tuổi mắc bệnh cao nhất là lứa tuổi từ 40 – 49 tuổi, sau đó tỷ lệ mắc bệnh cũng giảm dần. Hầu hết các ung thư vú của người lớn không phụ thuộc vào hormon tăng tỷ lệ mắc theo tuổi. Tỷ lệ của các ung thư phổ biến không phụ thuộc hormon tăng liên tục và tăng nhanh với tuổi [3],[10],[12].
2.2. Tuổi mãn kinh
Các nghiên cứu đã xác định được là mãn kinh tự nhiên sớm sẽ làm giảm cơ bản nguy cơ ung thư vú. Tương tự như vậy, cắt buồng trứng hai bên sớm làm giảm nguy cơ ung thư vú, một quan sát chứng minh mối liên quan nhân quả giữa chức năng buồng trứng và nguy cơ ung thư vú. Mãn kinh là một nguyên nhân gần nhất của mối liên quan phức tạp giữa tuổi và nguy cơ ung thư vú. Nếu mãn kinh không xảy ra, đường công tỷ lệ tuổi của ung thư vú sẽ tương tự như các ung thư khác ở người trưởng thành.
Những số liệu từ các nghiên cứu trường hợp - bệnh chứng của Trichopoulous và CS đã chỉ rõ rằng mãn kinh nhân tạo dưới tuổi 30 kết hợp với nguy cơ tương đối của ung thư vú là 0,36% (giảm 64%). Feinlaib ghi nhận trong một nghiên cứu nhóm lớn của tác giả là trong 1278 phụ nữ mãn kinh nhân tạo trước tuổi, có 6 bệnh nhân mắc ung thư vú so với tỷ lệ dự đoán là 24 trường hợp, giảm 75%. Nghiên cứu dịch tễ học của Hirayama và Wynder đã tìm thấy nguy cơ ung thư vú tương đối là 0,56 ở những phụ nữ được cắt buồng trứng hai bên, với những phụ nữ cắt buồng trứng trước tuổi 37, nguy cơ tương đối là 0,41 (có ý nghĩa là giảm 59%). Mãn kinh trước tuổi 35 kết hợp với giảm 60% đến 75% ung thư vú [3], [12].
Như vậy các yếu tố liên quan với sinh ung thư vú giảm rõ với ngừng chức năng buồng trứng. Điều đó chỉ rõ rằng hình thái hormon của phụ nữ tiền mãn kinh với sự sản xuất theo chu kỳ của các lượng tương đối của estradiol và progesteron gây một tỷ lệ lớn của tăng nguy cơ ung thư vú hơn hình thái nội tiết của phụ nữ hậu mãn kinh (estradiol thường xuyên thấp và progesteron rất thấp). Tuổi vào thời điểm mãn kinh cung cấp thông tin liên quan với tầm quan trọng tương đối của hormon buồng trứng trong việc xác định nguy cơ ung thư vú [3], [12].
2.3. Ảnh hưởng của các steroid giới tính tới tăng sinh tế bào và tạo ung thư
Để cắt nghĩa chính xác đường cong tỷ lệ theo tuổi của ung thư vú và những nghiên cứu dịch tễ học khác của nguy cơ ung thư vú, việc hiểu biết các tác động đặc hiệu của các steroid giới tính trên các tỷ lệ tăng sinh tế bào trong vú bình thường là cần thiết. Với ít ngoại lệ, các steroid giới tính không độc với gen nhưng chúng gây ảnh hưởng đến tỷ lệ tăng sinh tế bào. Bằng chứng từ các nghiên cứu sinh ung thư như do hoá chất, di truyền phân tử và dịch tễ học gợi ý rằng sự tăng sinh tế bào lặp lại là trung tâm nguy cơ của nhiều ung thư ở người nói chung. Những yếu tố làm tăng sinh tế bào trong một mô có thể gây hậu quả chuyển dạng ác tính do tăng khả năng tổn hại AND và vì vậy gây nên những đột biến ổn định.
Vì hiệu quả của các hormon trên tăng sinh tế bào phụ thuộc vào tỷ lệ và thời gian, tác động của hormon nội và ngoại sinh là thích hợp chỉ trong phạm vi của liều lượng và thời gian. Đánh giá ảnh hưởng của việc không bao giờ sử dụng  đến sử dụng thường xuyên một hormon ngược lại ít có giá trị.
Một số nghiên cứu tổng quan về hiệu quả của các hormon ngoại sinh và nguy cơ ung thư vú đã không tìm thấy hiệu quả của việc luôn luôn sử dụng và không bao giờ sử dụng một hormon ngoại sinh. Thời gian sử dụng hormon ngoại sinh trung bình là ngắn [3], [6], [12].
2.4. Ảnh hưởng của tuổi bắt đầu hành kinh và sự đều đặn của chu kỳ đến nguy cơ ung thư vú
Tuổi bắt đầu hành kinh quyết định thời gian tiếp xúc của vú với hiệu quả gián phân của các hormon buồng trứng. Có thể hiểu là bắt đầu hành kinh muộn hơn làm giảm nguy cơ ung thư vú. Hiệu quả này là quan trọng: có giảm khoảng 15% nguy cơ ung thư vú mỗi năm bắt đầu hành kinh muộn.
Nghiên cứu của Wang và CS cho thấy ở Thiên Tân Trung Quốc phụ nữ có kinh lần đầu muộn hơn ở các nước phương Tây, tuổi có kinh lần đầu trung bình là 14,4 tuổi, phụ nữ có kinh vào tuổi 12 hoặc sớm hơn có nguy cơ mắc ung thư vú 80% cao hơn so với phụ nữ có kinh lần đầu sau 17 tuổi. Sự điều hoà của chu kỳ kinh sau khi bắt đầu hành kinh cũng ảnh hưởng đến nguy cơ mắc ung thư vú. Chu kỳ điều hoà sớm hơn được xác lập, nguy cơ tiếp theo của ung thư vú lớn hơn [3], [12].
2.5. Sử dụng các thuốc ngừa thai là nguy cơ của ung thư vú
Các thuốc ngừa thai đường miệng phối hợp (COCS – Combination – type oral contracepties) ức chế chế tiết gonadotropin, vì vậy làm giảm sự sinh steroid của buồng trứng, nhưng sự mất steroid của buồng trứng được bù trừ bởi estrogen và progensteron tổng hợp trong COC. Estrogen và progensteron kết hợp của COC có mặt trong ba phần tư chu kỳ COC 28 ngày, trong khi progensteron của chu kỳ kinh tự nhiên chỉ có hiệu quả trong nửa chu kỳ. COC chung cũng chứa ethinylestradiol estrogen tổng hợp kết hợp với một trong số progensteron tổng hợp.Đã có bằng chứng là các progensteron không đối lập estrogentrong tế bào vú (có nghĩa là sự tăng sinh không giảm trong pha hoàng thể của chu kỳ tự nhiên), không chắc chắn là COC sẽ làm giảm tăng sinh tế bào vú bình thường.
Những số liệu thích hợp đã chỉ rõ khối lượng steroid giới tính cần thiết để đảm bảo việc ngừa thai có hiệu quả trong COC hình như gây nên tăng sinh tế bào vú tương tự như chu kỳ phóng noãn bình thường [3], [6], [12].
2.6. Điều trị thay thế hormon sau mãn kinh là nguy cơ của ung thư vú
Hiệu quả của điều trị thay thế hormon sau mãn kinh trên nguy cơ ung thư vú đã là chủ đề của nhiều nghiên cứu dịch tễ học và một số phân tích cao hơn. Trái với hiệu quả của estrogen không có đối lập trên nguy cơ của ung thư nội mạc, những bằng chứng có sẵn gợi ý rằng hiệu quả của điều trị hormon thay thế trên nguy cơ ung thư vú ở mức thấp hơn.
Do tỷ lệ ung thư vú cao, những nguy cơ ngay cả tương đối nhỏ có thể là quan trọng về số lượng. Những xu hướng mới trong việc ghi đơn điều trị thay thế trong một thời gian dài để điều trị bệnh loãng xương, kiểm soát các triệu chứng mãn kinh và có thể làm giảm nguy cơ bệnh tim mạch. Những nghiên cứu dịch tễ học nhằm cung cấp những số liệu an toàn liên quan đến điều trị thay thế, vì vậy phải tập trung vào hiệu quả của việc sử dụng lâu dài.
Hiệu quả của việc điều trị thay thế sau mãn kinh trên nguy cơ ung thư vú có thể được dự báo trên cơ sở hiệu quả của các hormon buồng trứng trên nguy cơ ung thư vú. Nguy cơ tương đối tiền mãn kinh kéo dài 5 hoặc 10 năm trong tuổi quanh năm kinh vào khoảng 1,3 và 1,6 theo thứ tự, đại diện cho tăng nguy cơ hàng năm khoảng 6%. Với liệu pháp thay thế liều thấp hiện đang được sử dụng, không chắc chắn là một liệu pháp như vậy có thể có hiệu quả trên nguy cơ ung thư vú lớn hơn hormon nội sinh.
Như bằng chứng đã nêu ở trên, các tỷ lệ tăng sinh tế bào thấp nhất trong pha nang của chu kỳ kinh, hiệu quả của điều trị thay thế estrogen đơn thuần có thể được dự báo thậm chí thấp hơn.
Các nguy cơ tương đối mức độ này khó được phát hiện và các hiệu quả dễ làm nhầm lẫn. Đáng chú ý nhất là hiệu quả của tuổi mãn kinh khó được xác định khi đã thực hiện điều trị thay thế ngay trước mãn kinh. Mặt khác khó có thể xác định tuổi mãn kinh ở những phụ nữ đã được mổ cắt tử cung. Việc thất bại trong việc xác định tuổi mãn kinh và việc gộp cả những phụ nữ đã được cắt bỏ tử cung vào nghiên cứu sẽ làm cho việc đánh giá hiệu quả của điều trị hormon thay thế khó khăn, vì vậy cần loại những trường hợp này khỏi nghiên cứu.
Trong phân tích lớn hơn trước đây của nghiên cứu dựa trên quần thể, Pike và CS đã xác định được là việc sử dụng 0,625mg estrogen kết hợp (Ces – conjugaed estrogen) để điều trị thay thế estrogen làm tăng nguy cơ ung thư vú 2,1% mỗi năm, cao hơn mức tăng cơ bản 2% mỗi năm ở phụ nữ hậu mãn kinh bình thường. Việc tăng nguy cơ ung thư vú này phù hợp với các mức estradiol có hiệu quả tương đối : các mức estradiol gắn globulin gắn hormon không giới tính của những người sử dụng CE gấp khoảng hai lần mức ở những phụ nữ hậu mãn kinh bình thường. Việc tăng tương tự nguy cơ ung thư vú được tìm thấy bởi một số chứ không phải tất cả các phân tích lớn.
Những nghiên cứu dịch tễ học của việc sử dụng hậu mãn kinh điều trị thay thế hormon estrogen và progestin kết hợp chỉ mới được công bố vì việc bổ sung progestin vào liệu pháp thay thế estrogen chỉ mới được thực hiện trong một thập kỷ vừa qua. Vì vậy những số liệu đề cập đến hiệu quả dài hạn của liệu pháp thay thế kết hợp này còn bị hạn chế. Hiện nay các số liệu có giá trị giới hạn cản trở việc dự báo chính xác nguy cơ.
Trong một nghiên cứu lớn, nguy cơ tương đối 1,41 (khoảng tin cậy 95%; 1,15 đến 1,74) đã tìm thấy với liệu pháp thay thế hormon kết hợp nhưng không có số liệu đủ để đánh giá hiệu quả của thời gian sử dụng. Trong một nghiên cứu lớn ở phụ nữ Thuỵ Điển, điều trị thay thế phối hợp có nguy cơ 1,4 (khoảng tin cậy 95%, 1,1 đến 1,8) với 10 năm theo dõi [6], [12].
2.7. Béo phì là nguy cơ đối với ung thư vú
Nhiều bằng chứng đã chỉ rõ rằng béo phì trong những năm hậu mãn kinh làm tăng nguy cơ ung thư vú, nhưng béo phì trong những năm tiền mãn kinh làm giảm nguy cơ ung thư vú. Tác động đảo ngược này có thể được cắt nghĩa bởi tác động khác nhau của béo phì tiền và hậu mãn kinh trên mức hormon nội sinh.
Mặc dù béo phì tiền mãn kinh làm giảm hormon giới tính gắn globulin và làm tăng tối thiểu việc tiếp xúc với estrogen, nó làm giảm việc tiếp xúc với progesteron. Sau mãn kinh, việc giảm nguy cơ ung thư vú kết hợp với béo phì tiền mãn kinh bị loại trừ dần với béo phì hậu mãn kinh tạo ra nguy cơ ung thư vú tăng [12], [3].
2.8. Ảnh hưởng của lịch sử gia đình ung thư vú đến nguy cơ ung thư vú
Ung thư vú gia đình đã được biết từ lâu. Những nghiên cứu dịch tễ học đã chỉ rõ nguy cơ ung thư vú lớn nhất ở những phụ nữ họ hàng thế hệ đầu với những phụ nữ mắc ung thư vú hai bên phát bệnh sớm và ở những phụ nữ có người ruột thịt hai thế hệ đầu mắc ung thư vú khởi phát sớm.
Những tiến bộ đáng khích lệ về di truyền của ung thư vú là việc xác định được gen BRCA1 khu trú ở ta dài của nhiễm sắc thể 17. Những đột biến của gen này kết hợp với nguy cơ tăng mạnh của cả ung thư vú và ung thư buồng trứng và tuổi khởi phát sớm. Một gen thứ hai BRCA2 khu trú ở tay dài của nhiễm sắc thể 13 cũng liên quan với tăng nguy cơ ung thư vú và cả các u ác tính khác. Những bất thường di truyền khác kết hợp với tăng nguy cơ ung thư vú và các ung thư khác được tiếp tục xác định bao gồm gen mất điều hoà giãn mạnh (ataxia telangiectasia) và gen p53. Có thể theo đó những bất thường di truyền làm tăng nguy cơ ung thư vú chưa được làm sáng tỏ [3], [12], [6].
2.9. Ảnh hưởng của bệnh lành tính tới nguy cơ ung thư vú
Các phụ nữ với lịch sử sinh thiết vú vì bệnh lành tính có thể có tăng nguy cơ ung thư vú. Sự tăng nguy cơ kết hợp với những bất thường biểu mô đặc hiệu và những người không có bệnh vú tăng sinh không có tăng nguy cơ ung thư vú. Quá sản không điển hình kết hợp với tăng nguy cơ ung thư vú gấp 5 lần và những tổn thương không điển hình kết hợp với nguy cơ ung thư vú tăng gấp 2 lần [3], [12].
2.10. Ảnh hưởng của một số yếu tố khác tới nguy cơ ung thư vú
Những nghiên cứu dịch tễ học vừa xác định một số các yếu tố khác có thể ảnh hưởng đến nguy cơ ung thư vú.
Chế độ ăn và dinh dưỡng có thể có hoặc không ảnh hưởng đến nguy cơ ung thư vú. Uống rượu có thể kết hợp với tăng nguy cơ ung thư vú. Uống rượu có thể kết hợp với tăng nguy cơ ung thư vú. Hút thuốc lá không làm tăng nguy cơ trừ những người có khả năng acetyl hóa chậm các acid amin. Tiếp xúc với bức xạ ion liều trung bình hoặc cao ở tuổi trẻ được biết là làm tăng nguy cơ ung thư vú.
Nhiều phương pháp vừa được phát triển để đánh giá nguy cơ ung thư vú. Phương pháp phát triển bởi Gail và CS coi tuổi hiện thời, tuổi bắt đầu hành kinh, tuổi có mang đủ tháng lần đầu, sinh thiết vú trước đó, những người ruột thịt thế hệ đầu mắc ung thư vú là những yếu tố nguy cơ cần được đánh giá [12], [3], [10]..
2.11. Ảnh hưởng sự xâm nhập của u
Đây là yếu tố tiên lượng quan trọng trong ung thư biểu mô tuyến vú. Các ung thư tại chỗ được chữa khỏi 100% bằng cắt bỏ vú. Trong các ung thư loại ống có cả thành phần tại chỗ và xâm nhập, có liên quan giữa tỷ lệ của thành phần xâm nhập và khả năng di căn hạch. Số lượng của các thành phần tại chỗ liên quan với tỷ lệ ung thư nhiều trung tâm và liên quan gián tiếp với một xâm nhập tiền ẩn. Tuy nhiên, đôi khi ung thư ống tại chỗ loại trứng cá có thể kết hợp với di căn ngay cả khi không có các ổ xâm nhập có thể phát hiện được tại u  nguyên phát.
Một đặc điểm hình thái của sự xâm nhập đáng được lưu ý là vùng rìa của ung thư. Theo Recht và Harris (1990), ý kiến về vai trò của vùng rìa ung thư trong việc lựa chọn bệnh nhân ở giai đoạn sớm của ung thư để điều trị bảo tồn còn trái ngược nhau. Tuy nhiên, theo các tác giả, vùng rìa khối u có ý nghĩa lâm sàng  chỉ khi được cắt nghĩa có liên hệ với loại mô học và độ mô học của u nguyên phát và vùng rìa “âm tính” không nhất thiết phải đạt được tỷ lệ kiểm tra u tại chỗ cao.
Nghiên cứu của Gage và cộng sự (1996) lại chứng minh rằng sự xâm nhập vùng rìa có giá trị tiên đoán nguy cơ tái phát ở những bệnh nhân ung thư biểu mô tuyến vú được điều trị bảo tồn [11].
2.12. Vị trí u
Vị trí u cũng có ý nghĩa tiên lượng. Theo Kamakura và cộng sự (1996), tỷ lệ sống thêm không bệnh tật thấp hơn ở những bệnh nhân có những ung thư khu trú ở các vùng ¼ dưới của vú so với những bệnh nhân có u ở các vùng khác của vú. Tuy nhiên theo Budyaratavey và cộng sự (1993), vị trí tại vú của u không có ý nghĩa tiên lượng [12].
2.13. Kích thước u
Đường kính của u nguyên phát có liên quan chặt chẽ với tỷ lệ di căn hạch và tỷ lệ sống thêm. Yếu tố xác định dễ dàng, nhanh chóng này được tìm thấy là một trong những yếu tố tiên đoán di căn và tỷ lệ tái phát đáng tin cậy nhất ở những ung thư biểu mô vú hạch âm tính.
Kích thước u cũng là một trong hai tiêu chuẩn định nghĩa ung thư biểu mô tuyến vú tối thiểu, nó bao gồm tất cả các ung thư biểu mô tại chỗ không tính đến kích thước và các ung thư biểu mô xâm nhập có đường kính bằng hoặc nhỏ hơn 1cm. Theo Seidman và cộng sự (1995), trong các ung thư biểu mô ống có kích thước nhỏ, chỉ có kích thước của thành phần xâm nhập được xác định trên kính hiển vi có ý nghĩa tiên đoán tình trạng di căn hạch nách tốt hơn kích thước toàn khối u [3], [10].
Từ những kết quả nghiên cứu của mình, Barth và cộng sự (1997) rút ra kết luận là phẫu tích hạch nách phải được thực hiện thường quy cho tất cả những bệnh nhân có u nguyên phát > 1 cm. Dựa trên những kết quả điều trị bảo tồn và liệu pháp tia X (xạ trị) ung thư biểu mô tuyến vú giai đoạn I và II, Fowble và cộng sự (1990) nhận xét chỉ có một yếu tố tiên lượng có ý nghĩa và thời gian sống thêm là kích thước u được xác định lần đầu trên lâm sàng. Giuliano và cộng sự (1996) lại đưa ra một nhận định dè dặt hơn là kích thước u chỉ có giá trị tiên đoán chính xác di căn hạch nách ở những bệnh nhân ở giai đoạn T1 của ung thư biểu mô tuyến vú [3], [10].
Ở những trường hợp ung thư biểu mô tuyến vú được phát hiện qua chụp vú, di căn hạch nách được tìm thấy ở 6,5% nhóm ung thư không sờ nắn thấy so với 53% di căn hạch nách ở nhóm được phát hiện trên lâm sàng. Điều đó chứng tỏ ý nghĩa của kích thước u trong tiên lượng bệnh. Nghiên cứu của Silverstein và cộng sự (1995) cũng được xác định sự kết hợp giữa các T (kích thước u) với khả năng sờ nắn thấy u là yếu tố tiên đoán di căn hạch nách chính xác hơn khi chỉ dựa vào kích thước u đơn thuần. Kết quả nghiên cứu của Veronesi và cộng sự (1995) đã chứng minh là kích thước u và xâm nhập hạch nách không có ý nghĩa tiên đoán tái phát tại chỗ mà là yếu tố dự báo quan trọng của di căn xa.
Ý nghĩa tiên lượng của kích thước u được minh hoạ tốt nhất ở những bệnh nhân không có di căn hạch nách. Những bệnh nhân hạch nách âm tính với các u xâm nhập với kích thước nhỏ hơn 5mm có xác xuất 98% không bị bệnh vào thời điểm 10 năm so với xác xuất 94% với những bệnh nhân với hạch âm tính với u kích thước 6 – 10mm và 84% với những u 11 – 20mm. Với bất kỳ số lượng hạch di căn đã biết nào, các bệnh nhân có u lớn hơn có tiên lượng xấu hơn [3], [10], [11].
2.14. Giai đoạn bệnh
*  Theo TNM (UICC 2003)
T: U nguyên phát gồm :
Tx: Không thể xác định được.
T0: Không có bằng chứng về u nguyên phát.
Tis: Ung thư biểu mô tại chỗ.
Tis : (DCIS) : Ung thứ biểu mô ống tại chỗ.
Tis : (LCIS): Ung thư biểu mô tiểu thuỳ tại chỗ.
Tis (Paget): Bệnh Paget tuyến vú không có u.
Ghi chú: Bệnh Paget kết hợp với một u được xếp loại theo kích thước u.
T1: U có kích thước 2cm hoặc nhỏ hơn.
T1 mic: Vi xâm nhập: U xâm nhập đường kính lớn nhất 0,1cm hoặc nhỏ hơn.
T1a: U có đường kính lớn nhất lớn hơn 0,1cm nhưng nhỏ hơn 0,5cm.
T1a: U có đường kính lớn hơn 0,5cm nhưng nhỏ hơn 1cm.
T1c: U có đường kính lớn nhất lớn hơn 1cm nhưng nhỏ hơn 2cm.
T2: U có kích thước lớn nhất trên 2cm, nhưng không vượt quá 5cm.
T3: U có kích thước lớn nhất trên 5cm.
T4: U bất kỳ kích thước nào có lan trực tiếp vào thành ngực hoặc da được mô tả từ T4a đến T4d.
Ghi chú: 
Thành ngực gồm các xương sườn, các cơ liên sườn và cơ serratus trước bao gồm cơ ngực.
T4a: Phù (bao gồm da cam) hoặc loét da vú hoặc các u da hình sao ở cùng một vú.
T4c: Cả T4a và T4b.
T4d: Ung thư biểu mô viêm.
Ghi chú: 
Vi xâm nhập là sự lan tràn của các tế bào ung thư ra ngoài màng đáy và các mô đệm phụ cận, không có các ổn đường kính lớn hơn 0,1cm. Khi có ổ vi xâm nhập, kích thước của ổ lớn nhất được sử dụng để xếp loại ổ vi xâm nhập (không sử dụng tổng kích thức của các ổ riêng lẻ). Sự có mặt của nhiều ổ vi xâm nhập cần được ghi chú như có một ung thư lớn hơn.
Ung thư biểu mô viêm của vú có đặc điểm là sự cứng lan toả màu nâu của da với các ổ giống viêm quầng, thường không có khối u nằm dưới. Nếu sinh thiết da âm tính và không có ung thư nguyên phát khu trú do được, loại T là pTx khi định giai đoạn bệnh học một ung thư biểu mô viêm lâm sàng (T4d).
Lõm da, co kéo núm vú hoặc những thay đổi da khác, trừ những tổn thương trong T4b và T4d có thể xảy ra ở T1, T2 và T3 không ảnh hưởng đến xếp loại.
N : Hạch bạch huyết vùng.
Nx: Hạch bạch huyết vùng không đánh giá được (đã lấy bỏ trước đây).
N0: Không di căn hạch bạch huyết vùng.
N1: Di căn hạch bạch huyết vùng cùng bên có thể di động được.
N2: Di căn các hạch bạch huyết nách cùng bên cố định hoặc di căn hạch vú trong cùng bên rõ ràng trên lâm sàng khi không có bằng chứng di căn hạch nách rõ trên lâm sàng.
N2a: Di căn hạch nách cố định với các hạch khác hoặc cấu trú khác.
N2b: Chỉ có di căn hạch vú trong rõ ràng trên lâm sàng và không có các di căn hạch nách rõ ràng trên lâm sàng.
N3: Di căn tới hạch bạch huyết dưới xương đòn có hoặc không có xâm nhập hạch nách, hoặc di căn các hạch vú trong cùng bên rõ ràng trên lâm sàng khi có các di căn hạch nách rõ ràng trên lâm sàng, hoặc di căn (các) hạch thượng đòn cùng bên có hoặc không có di căn hạch vú trong hoặc hạch nách.
N3a: Di căn hạch dưới đòn.
N3b: Di căn hạch vú trong và hạch nách.
N3c: Di căn các hạch thượng đòn.
M: Di căn xa:
Mx: Di căn xa không thể xác định được.
M0: Không có di căn xa.
M1: Có di căn xa.
Xếp loại giải phẫu bệnh pTNM
pT – U nguyên phát
Xếp loại giải phẫu bệnh đòi hỏi xét nghiệm u nguyên phát không có u ở rìa khối u. Một trường hợp có thể được coi là pT nếu chỉ có u vi thể ở vùng rìa khối u. Loại pT tương ứng với loại T. Nếu có thành phần tại chỗ lớn (Ví dụ 4cm) và thành phần tại chỗ nhỏ (ví dụ 0,5cm), u được xếp loại là pT1a.
pN - Hạch bạch huyết vùng.
pNx : Hạch bạch huyết vùng không thể đánh giá được (không lấy để nghiên cứu hoặc đã lấy đi từ trước).
pN0: Không có di căn bạch huyết vùng.
pN1mi : Vi di căn (lớn hơn 0, mm, nhưng đường kính lớn nhất không lớn hơn 2mm).
pN1 : Di căn 1 đến 3 hạch bạch huyết cùng bên, và / hoặc trong hạch vú trong có di căn vi thể phát hiện được bằng phẫu tích hạch vú trong nhưng không rõ ràng trên lâm sàng**.
pN1a: Di căn 1 đến 3 hạch nách bao gồm ít nhất một hạch có đường kính lớn nhất 2mm.
pN1b: Hạch vú trong có di căn vi thể được phát hiện bằng phẫu tích hạch cửa nhưng không rõ trên lâm sàng.
pNc: Di căn 1 – 3 hạch nách và hạch vú trong có di căn vi thể phát hiện bằng phẫu tích hạch cửa nhưng không rõ trên lâm sàng.
pN2: Di căn trong 4 – 9 hạch nách cùng bên hoặc trong hạch vú trong cùng bên rõ ràng trên lâm sàng *** khi không có di căn hạch nách.
pN2a. Di căn 4 – 9 hạch nách bao gồm ít nhất một di căn lớn hơn 2mm.
pN2b: Di căn hạch vú trong rõ ràng trên lâm sàng, khi không có di căn hạch nách.
pN3: Di căn 10 hoặc nhiều hơn hạch nách vùng bên hoặc trong các hạch dưới xương đòn, hoặc trong các hạch vú trong cùng bên rõ trên lâm sàng khi có một hoặc nhiều hạch dương tính, hoặc trên 3 hạch nách âm tính trên lâm sàng, di căn vi thể các hạch vú trong; hoặc trong các hạch dưới đòn cùng bên.
pN3a: Di căn trong 10 hoặc nhiều hơn hạch nách (ít nhất 1 di căn lớn hơn 2mm) hoặc di căn các hạch dưới đòn.
pN3b : Di căn các hạch vú trong rõ trên lâm sàng khi có một hoặc nhiều hơn các hạch nách dương tính, hoặc di căn trên 5 hạch nách và hạch vú trong có di căn vi thể phát hiện được bằng phẫu tích hạch cửa nhưng không rõ trên lâm sàng.
pN3c: Di căn trong các hạch dưới đòn.
Ghi chú:
* Những trường hợp chỉ có các tế bào u cô lập trong các hạch bạch huyết vùng được xếp loại là pN0. Các tế bào u cô lập là các tế bào u riêng lẻ hoặc các cụm nhỏ tế bào u không lớn hơn 0,2mm đường kính, chúng thường được phát hiện bằng hoá mô miễn dịch hoặc các phương pháp phân tử nhưng chúng cũng có thể được kiểm tra trên các tiêu bản nhuộm H&E. Các tế bào u cô lập không có bằng chứng hoạt động di căn điển hình (nghĩa là sự tăng sinh hoặc phản ứng mô đệm).
** Không rõ trên lâm sàng nghĩa là không phát hiện được bằng khám lâm sàng hoặc bằng các nghiên cứu hình ảnh (trừ chụp bạch mạch).
*** Rõ trên lâm sàng nghĩa là phát hiện được bằng khám lâm sàng hoặc bằng các nghiên cứu hình ảnh (trừ chụp bạch mạch) hoặc nhìn rõ trên đại thể.
pM : di căn xa.
Loại pM tương ứng với loại M.
Xếp giai đoạn.
* Theo giai đoạn bệnh.
Giai đoạn T N M
0 Tis N0 M0
I T1 N0 M0
IIA T0 N1 M0
  T1 N1 M0
  T2 N0 M0
IIB T2 N1 M0
  T3 N0 M0
IIIA T0 N2 M0
  T1 N2 M0
  T2 N2 M0
  T3 N1, N2 M0
IIIB T4 N0, N1, N2 M0
  Mọi T N3 M0
IV Mọi T Mọi N M1
2.15. Các biểu hiện lâm sàng của ung thư vú
* Tại chỗ
- U trong vú.
- Da dầy lên hoặc biến đổi.
- Da cam.
- Da co kéo.
- Núm vú bị lún hoặc sù sì.
- Tiết dịch núm vú một bên.
* Hạch lymphô
- Hạch nách hoặc trên đòn.
* Lan tràn
- Tràn dịch màng phổi.
- Tràn dịch màng tim.
- Gãy xương.
- Bụng : Gan to, cổ trướng, các khối khác.
* Hệ thần kinh trung ương
- Di căn não.
- Chèn ép cột.
* Triệu chứng toàn thân
- Mệt.
- Sụt cân.
- Đau xương.
- Đau họng.
[5]
3. CÁC ĐẶC ĐIỂM CẬN LÂM SÀNG
3.1. Chẩn đoán vi thể tế bào học
Nguyên tắc phát hiện ung thư dựa vào những đặc điểm bất thường của tế bào đã từ lâu được công nhận. Có thể nghiên cứu tế bào bong hoặc các tế bào có được nhờ chọc hút bằng kim nhỏ (Fine Needle Aspiration Cytology - FNAC).
Chẩn đoán vi thể tế bào học dựa vào tế bào bong : Từ 1838 Donne đã có ý định đi tìm những tế bào bất thường trong sữa non. Chẩn đoán vi thể tế bào học dựa vào chọc hút bằng kim nhỏ (FNAC). Phương pháp này cho phép phân biệt nhanh ung thư vú với các bệnh lành tính khác là phương pháp chẩn đoán đơn giản, vô hại, ít gây tổn thương, ít tốn kém cho kết quả nhanh chóng [7], [8], [14], [16], giá trị của phương pháp nay chủ yếu phụ thuộc vào chất lượng và kinh nghiệm của các nhà tế bào học, kết quả chính xác phụ thuộc từng tác giả dao động 86 - >98%.
Dowlatshaki K và CS đã tiến hành chọc hút tế bào nhờ một thiết bị điện quang định vị đặc biệt kết quả nghiên cứu cho thấy 95,2% kim chọc đó nằm cách điểm cần nghiên cứu là 1 - > 2 mm, tác giả kết luận : chọc hút tế bào kết hợp thiết bị định vị điện quang là phương pháp có hiệu quả trong chẩn đoán ung thư vú [13], [18].
Ngày nay, bộ ba chẩn đoán ung thư vú thường được áp dụng là lâm sàng – hình ảnh học - tế bào học qua chọc hút tế bào bằng kim nhỏ (FNAC). Kỹ thuật hình ảnh học được sử dụng là siêu âm, nhũ ảnh và cộng hưởng từ. Có nghiên cứu đã báo cáo nếu phối hợp lâm sàng – siêu âm - nhũ ảnh – FNAC cho chẩn đoán chính xác gần 100% ung thư vú. Nhưng không có một kỹ thuật nào thực hiện riêng lẻ một mình có thể cho phép phát hiện ra tất cả các trường hợp ung thư vú [3], [12].
Riêng phương pháp FNAC trong chẩn đoán bệnh lý tuyến vú đã được thực hiện từ những năm đầu thế kỷ XX trên thế giới và nhiều năm qua tại một số cơ sở y tế tại Việt Nam. Qua nghiên cứu, các tác giả thấy tuy còn một số hạn chế như : Mẫu không đạt yêu cầu, khó phân biệt bướu sợi tuyến dạng hỗn hợp với ung thư nhầy, không thể chẩn đoán phân biệt chính xác, giữa ung thư tại chỗ và ung thư xâm lấn (6). Tuy nhiên giá trị FNAC thì ngày càng được khẳng định. Qua nghiên cứu, các tác giả đề nghị rằng. Đối với tổn thương thấy được trên siêu âm thì thực hiện dưới hướng dẫn của siêu âm là tiện lợi, nhanh chóng và tiết kiệm nhất, kết quả vẫn cao nhất là đối với bướu đặc. Nhiều nghiên cứu của nước ngoài đã chứng minh độ nhạy, độ đặc hiệu, độ chính xác của US-guided FNAC sẽ cao hơn là không có siêu âm hướng dẫn [3], [5].
Chẩn đoán tế bào học cũng là phương pháp nghiên cứu có ý nghĩa thực tiễn rất lớn. Người ta có thể lấy được nhiều tế bào trên một diện rộng nhờ áp, miết hoặc phết một mảnh tổ chức tuyến vú hoặc tổ chức thạch vừa được cắt ra trong quá trình chọc hút lên một số lam kính, nhờ cải tiến phương pháp nhuộm và cố định bình phẩm nên chỉ mất tối đa khoảng 6 -10 phút đã có kết quả.
Phương pháp chọc hút tế bào không chỉ có ý nghĩa trong chẩn đoán mà còn có ý nghĩa đối với tiên lượng ung thư vú. Nhờ phương pháp hoá mô miễn dịch tế bào các chất hút bằng kim nhỏ nhiều tác giả đã nghiên cứu các thụ cảm thể estrogen và progesteron trên bề mặt tế bào tuyến vú.
Nhìn chung các tài liệu nghiên cứu cả trong nước và nước ngoài đều khẳng định đây là phương pháp an toàn, dễ thực hiện, ít tốn kém và hiệu quả chẩn đoán cao nhất là khi cần chẩn đoán phân biệt khối u ở tuyến vú là lành tính hay ác tính để có kế hoạch phẫu thuật. Đặc biệt đối với những phụ nữ trẻ phương pháp chụp X-quang có độ nhạy kém hơn thì việc chẩn đoán tế bào học càng có ý nghĩa.
Theo Dawson và CS (1997), sự chậm trễ trong chẩn đoán ung thư vú có thể xảy ra ở những người phụ nữ trẻ. Các tác giả đã nghiên cứu tế bào học chọc hút kim nhỏ ở 63 phụ nữ ung thư vú tuổi bằng hoặc dưới 35 tuổi. Chẩn đoán tế bào học là ác tính/ nghi ngờ ở 86% số trường hợp, không điển hình 12% và âm tính ở 1,4%. Nhiều phiến đồ tế bào học giàu tế bào với nhân lớn và hạt nhân nổi rõ. Tế bào học chọc hút kim nhỏ chiếm ưu thế là nhân độ 2 (47%), nhân độ 3 (47%), chỉ có 4 trường hợp là nhân độ 1 (6%). Các tác giả cho rằng tế bào học chọc hút kim nhỏ ở những phụ nữ trẻ giúp tránh được chẩn đoán muộn ung thư vú. Đáng chú ý là có tăng tỷ lệ u độ cao [5], [12].
3.2. Chẩn đoán mô bệnh học ung thư vú
3.2.1. Ung thư biểu mô
* Thể không xâm lấn
- Ung thu biểu mô thể nội ống
- Ung thư biểu mô thể tiểu thuỳ tại chỗ
* Thể xâm lấn:
- Ung thư biểu mô thể ống xâm lấn
- Ung thư biểu mô thể ống xâm lấn với thành nội ống ưu thế.
- Ung thư biểu mô thể tiểu thuỳ xâm lấn
- Ung thư biểu mô thể nhầy
- Ung thư biểu mô thể nhú
- Ung thư biểu mô thể tủy
- Ung thư biểu mô thể ống nhỏ
- Ung thư biểu mô thể mặt sàng (dạng tuyến nang)
- Ung thư biểu mô thể chế tiết
- Ung thư biểu mô thể tuyến bán hủy
- Ung thư biểu mô thể dị sản:
+ Typ vảy
+ Typ tế bào hình thoi
+ Typ sụn và xương
+ Typ hỗn hợp
* Các loại khác
Bệnh paget của núm vú: Trong phân loại của WHO năm 1981 được xếp vào một nhóm riêng để chỉ một tổn thương ác tính của núm vú có biểu hiện lâm sàng kiểu eczema. Tổn thương thường phối hợp với một ung thư biểu mô nội ống hay ung thư biểu mô ống xâm nhập. Các tác giả cho rằng về ý nghĩa tiên lượng, sự kết hợp này có thể làm trầm trọng thêm diễn biến của bệnh. Vì thế các tác giả Rosen và Oberman coi Paget là một thứ nhóm của ung thư biểu mô nội ống hay ung thư biểu mô ống xâm nhập để nhấn mạnh đặc điểm này.
- Mới đây năm 2003, WHO đã công bố một bảng phân loại mô học mới các u vú. Đây là bảng phân loại mô học các ung thư biểu mô vú.
Phân loại mô học các ung thư biểu mô vú theo WHO năm 2003
Ung thư biểu mô ống xâm nhập loại không đặc biệt .
Ung thư biểu mô loại hỗn hợp
Ung thư biểu mô đa hình thái.
Ung thư biểu mô tế bào khổng lồ tạo cốt bào.
Ung thư biểu mô với hình ảnh ung thư biểu mô màng đệm.
Ung thư biểu mô với hình ảnh tế bào hắc tố.
Ung thư biểu mô tiểu thuỳ xâm nhập.
Ung thư biểu mô ống nhỏ.
Ung thư biểu mô tuỷ.
Ung thư biểu mô nhầy và các khối u khác với nhiều chất nhầy.
Ung thư biểu mô nhầy.
Ung thư biểu mô tuyến nang và ung thư biểu mô nhầy tế bào trụ.
Ung thư biểu mô tế bào nhẫn.
Các u thần kinh nội tiết.
Ung thư biểu mô các u thần kinh nội tiết đặc.
U carcinoid không điển hình.
Ung thư biểu mô tế bào nhỏ/ ung thư biểu mô tế bào hạt lúa mạch.
Ung thư biểu mô thần kinh nội tiết tế bào lớn.
Ung thư biểu mô nhú xâm nhập.
Ung thư biểu mô vi nhú xâm nhập.
Ung thư biểu mô tuyến tiết rụng đầu.
Ung thư biểu mô dị sản.
Ung thư biểu mô dị sản biểu mô đơn thuần.
Ung thư biểu mô tế bào vảy.
Ung thư biểu mô tuyến dị sản tế bào thoi.
Ung thư biểu mô tuyến vảy.
Ung thư biểu mô nhầy biểu bì.
Ung thư biểu mô dị sản hỗn hợp biểu mô / trung mô.
Ung thư biểu mô giàu lipid
Ung thư biểu mô chế tiết.
Ung thư biểu mô tế bào hạt (oncocytic carcinoma).
Ung thư biểu mô dạng tuyến nang.
Ung thư biểu mô tế bào chùm nang (acinic).
Ung thư biểu mô tế báo sáng giàu glycogen.
Ung thư biểu mô tuyến bã.
Ung thư biểu mô viêm.
U tiểu thùy.
Ung thư biểu mô tiểu thuỳ tại chỗ.
Ung thư biểu mô tăng sinh nội ống.
Ung thư biểu mô ống tại chỗ.
Ung thư biểu mô vi xâm nhập.
Ung thư biểu mô nội ống.
Ung thư biểu mô nhú nội ống.
 Ung thư biểu mô nhú nội nang.
3.2.2. Các ung thư hỗn hợp mô liên kết và biểu mô
- Sarcôm dạng lá.
- Sarcôm biểu mô.
3.2.3. Các ung thư khác
- Phần mềm.
- Da.
- Mô tạo máu và limphô .v.v….
3.3. Chụp X.Quang tuyến vú
- Chụp XQuang tuyến vú (Mamography) là xét nghiệm kinh điển và có giá trị cao đối với chẩn đoán cũng như sàng lọc ung thư vú, với độ chính xác 80 – 90%.
- Từ 1913 Salarmon là người đầu tiên dùng X.quang nghiên cứu ung thư vú, ông đã liên hệ các hình ảnh X.quang ở bệnh nhân đã mổ với chẩn đoán giải phẫu bệnh [13].
Trong những năm 60 càng  ngày càng có nhiều tác giả công bố kết quả nghiên cứu chụp vú chẩn đoán ung thư vú: Gros (1963); Egan (1964); Samuel và young (1964). Trong hội thảo về chụp X quang vú tại Mỹ Evan KT và Gravellec. H cho rằng: Chụp vú là phương pháp tốt để phát hiện các bệnh vú nó không thay thế cho lâm sàng nhưng lại là một phương pháp bổ xung cần thiết để đánh giá về bệnh vú. Khi phối hợp hai phương pháp này tỷ lệ chính xác sẽ tăng. Chụp vú là phương pháp đặc biệt có giá trị khi khối u không sờ thấy trên lâm sàng, những tổn thương kín đáo hoặc tổn thương trong lòng ống sữa.
Tuy nhiên đối với những phụ nữ trẻ phương pháp chụp điện quang vẫn còn hạn chế nghiên cứu với độ nhạy chỉ bằng 76% (Ascley, S.Royle, G.T.Corder và CS 1989)..
E.vans KT và Gravella H đã đưa ra những chỉ định cho phương pháp chụp vú như sau:
+ Để khẳng định một chẩn đoán lâm sàng đã được xác định, chỉ định này đặc biệt có ý nghĩa khi chẩn đoán lâm sàng xác định là ung thư vú nhưng chẩn đoán tế bào học lại âm tính.
+ Hỗ trợ cho các trường hợp chẩn đoán lâm sàng có khó khăn hoặc còn nghi ngờ do dự giúp loại trừ ung thư vú trong trường hợp loạn sản.
+ Để chẩn đoán các ung thư vú không triệu chứng khi các bệnh nhân không có hoặc có các triệu chứng mơ hồ về vú mà người thầy thuốc vẫn nghi ngại.
+ Giúp cho sinh tiết vú được chính xác hơn, chụp vú được tiến hành định vị nơi phải làm sinh thiết và giúp phẫu thuật xác định chính xác hơn nơi cần cắt bỏ.
Việc sử dụng rộng rãi chụp vú đã thay đổi một cách cơ bản phương pháp chẩn đoán ung thư vú. Các u cự ly nhỏ (1 – 2mm) có thể được phát hiện với kỹ thuật này. Chẩn đoán được xác định dựa trên sự xuất hiện Calci hóa. Tỷ lệ xuất hiện Calci hoá trong ung thư biểu mô tuyến vú vào khoảng 50 – 60% và tỷ lệ này trong bệnh lành tính là 20% trở lên cũng có sự khác biệt trong hình dạng calci hoá [12].
Cũng cần phải nhớ rằng hình chụp vú âm tính cũng không loại trừ được khả năng của một ung thư biểu mô vú trong khoảng 20% các trường hợp các u sờ nắn thấy không được phát hiện bằng kỹ thuật này. Tỷ lệ dương tính giả vào khoảng 1%. Việc lấy mẫu chính xác các tổn thương phát hiện được bằng chụp vú đòi hỏi sự hợp tác chặt chẽ giữa nhà Xquang, phẫu thuật viên và nhà bệnh học. Khi nhà Xquang phát hiện được một vùng bất thường, cần phải cung cấp cho phẫu thuật viên một bản đồ về vị trí tương đối của vùng nghi ngờ trên vú. Một sinh thiết theo định vị Xquang được tiến hành.
Kết quả cao nhất thường đạt được khi xét nghiệm vùng vôi hoá trên phim Xquang và vùng nhu mô xơ hoá. Một nguyên nhân quan trọng của những mâu thuẫn giữa những phát hiện trên hình chụp vú và xét nghiệm vi thể là do những tinh thể oxalat calci dễ dàng được xác định trên phim Xquang nhưng lại dễ dàng bị mất khi xét nghiệm mô học. Trong một loạt nghiên cứu 558 bệnh nhân với các ung thư biểu mô xâm nhập không sờ thấy được phát hiện bằng chụp vú và được phẫu tích hạch nách, 27% số trường hợp có ít nhất 01 hạch dương tính.
Những thông tin mới có giá trị gợi ý rằng chụp cộng hưởng từ hạt nhân không thay thế được phương pháp chụp vú chuẩn vì nó không phát hiện được những calci hóa vi thể.
Đối với ung thư vú ở phụ nữ trẻ, phương pháp chụp X.quang tuyến vú còn hạn chế hơn với độ nhạy, có tác giả khuyên chỉ chụp X.quang đối với những trường hợp lớn hơn 30 tuổi, do ở tuổi này các tổ chức vú giảm nước tế bào [2], [15], [19]. Đây cũng là một yếu tố làm cho chẩn đoán ung thư vú ở phụ nữ trẻ thường ở giai đoạn muộn.
3.4. Siêu âm tuyến vú
Là phương pháp chẩn đoán hiện đại, rẻ tiền có nhiều ưu điểm: Tính thông tin cao, vô hại, tiết kiệm khả năng phục vụ lớn, sử dụng tương đối đơn giản và không có phân định. Chẩn đoán ECHO ngày càng được nhiều tác giả áp dụng rộng rã

Tác giả bài viết :

Nguồn tin :