Virus viêm gan C là một loại virus có khuynh hướng xâm nhập và phá hủy tế bào gan, gây ra bệnh viêm gan. Được phát hiện từ năm 1989, đến nay viêm gan virus C đã gây nên những hệ lụy không nhỏ đối với con người và được xem là một trong những loại bệnh nguy hiểm nhất, là “sát thủ thầm lặng” đe dọa sức khỏe con người.
Theo ước tính của tổ chức y tế thế giới (WHO) có khoảng 170 – 200 triệu người nhiễm virus viêm gan C, trong 1 thập kỷ qua, số lượng bệnh nhân nhiễm virus viêm gan C đã tăng gấp 4 lần. Đây là căn bệnh có tiến triển thầm lặng nhưng thường gây nên những biến chứng nguy hiểm đến tính mạng.
Ở Việt Nam tỷ lệ nhiễm HCV chiếm từ 1-5% dân số, người trưởng thành nhiễm HCV có đến 58- 80% phát triển thành viêm gan C mạn tính. Sau 10 năm, có khoảng 10% phát triển thành xơ gan, sau 20 năm tỷ lệ này là >15%. Mỗi năm có khoảng 1- 4% bệnh nhân viêm gan virus C mạn biến chuyển thành ung thư gan. Vì thế để đối phó với viêm gan C cần có chế độ phòng bệnh khoa học, kịp thời điều trị khi phát hiện bệnh và phải có phác đồ điều trị hợp lý.
Một trong những đặc điểm quan trọng của viêm gan virus C là đa số bệnh nhân sẽ không có khả năng loại trừ virus ra khỏi cơ thể và họ sẽ trở thành người nhiễm virus viêm gan C mạn tính. Trong số đó, 25% bệnh nhân có men gan hoàn toàn bình thường trong nhiều năm và họ được gọi là “người mang virus viêm gan C mạn tính không triệu chứng”.
Số bệnh nhân còn lại có viêm gan mạn tính tiến triển chậm, men gan có lúc tăng, lúc giảm về bình thường. Do vậy, bệnh nhân thường chủ quan không chịu theo dõi bệnh thường xuyên. Sau 10 - 20 năm, ít nhất có 20% số bệnh nhân viêm gan virus C mạn tính tiến triển sang xơ gan rồi thành ung thư gan. Xơ gan
có thể xảy ra sớm hơn nếu như bệnh nhân uống rượu nhiều hoặc bị nhiễm thêm các loại virus khác như virus viêm gan B, D, HIV…
Virus viêm gan C
Phát hiện bệnh sớm là cách chữa trị hiệu quả nhất
Viêm gan virus C có 3 con đường lây chính: đường máu, tình dục và lây từ mẹ sang con. Vì thế việc lây nhiễm virus viêm gan C rất dễ dàng, nguời dân cần phải phòng bệnh và xét nghiệm định kỳ nếu bản thân mình thuộc nhóm có nguy cơ lây nhiễm cao.
Khi mới nhiễm HCV chỉ có khoảng 20% bệnh nhân biểu hiện triệu chứng bên ngoài của viêm gan cấp, triệu chứng này bao gồm: mệt mỏi, đau cơ, ăn không ngon và sốt nhẹ, hiếm hơn là vàng da và vàng mắt. Tuy nhiên, có khoảng 75% bệnh nhân không có hoặc có ít triệu chứng nên khó phát hiện.
Khi viêm gan trở thành mạn tính đa số bệnh nhân vẫn chưa có triệu chứng. Do đó những người mắc viêm gan virus C mạn tính được chẩn đoán trong khi xét nghiệm máu thường quy là vì những mục đích không liên quan (đi khám sức khỏe định kỳ, đi hiến máu nhân đạo…). Những người bị nhiễm vẫn không có triệu chứng gì nhưng quá trình viêm gan vẫn đang tiến triển, hoại tử và xơ hóa (tạo sẹo). Những bệnh nhân khác có thể chỉ mệt mỏi kéo dài hay từng cơn và giảm cảm giác khoẻ mạnh là kết quả của bệnh đang tiến triển. Mặt khác, mệt mỏi cũng được mô tả ở những người bệnh nhẹ.
Hiện nay cùng với những tiến bộ của y học, việc tầm soát và điều trị bệnh viêm gan virus C cũng có nhiều bước phát triển. Viêm gan virus C không còn là bệnh nan y, mà là bệnh có thể điều trị được và điều trị khỏi hoàn toàn một khi bệnh được phát hiện sớm, điều trị đúng và người bệnh tuân thủ điều trị. Người bệnh cần phải hiểu biết về bệnh, hợp tác với thầy thuốc chuyên khoa trong việc chọn lựa thuốc và trong suốt quá trình điều trị để có cơ hội chữa lành bệnh cao nhất. Tại Việt Nam, phương pháp Ozone và phương pháp tế bào gốc là hai phương pháp tiên tiến nhất và hiệu quả nhất được các chuyên gia trong ngành Gan mật đánh giá rất cao.
Phác đồ điều trị tối ưu hiện nay là sử dụng kết hợp Peg-interferon (Pegasys hoặc Peg-Intron) với Ribavirine. Peg-interferon là loại thuốc dùng tiêm dưới da, mỗi tuần một lần. Còn ribavirine là loại thuốc uống mỗi ngày. Thời gian điều trị phải kéo dài từ 6 đến 12 tháng tùy từng trường hợp. Trước kia, người ta dùng loại thuốc interferon thông thường, tiêm ba lần mỗi tuần, có chi phí thấp hơn nhưng chỉ đạt được hiệu quả dưới 30%.
Quá trình điều trị có thể sẽ đem lại một số tác dụng phụ. Interferon có thể gây các triệu chứng giống cảm cúm như mệt mỏi, sốt, ớn lạnh, đau xương khớp, đau mình mẩy. Các triệu chứng này chỉ xảy ra trong vài tuần đầu điều trị. Ngoài ra, bệnh nhân còn bị chán ăn, rụng tóc, trầm cảm, giảm số lượng các tế bào máu… Ribavirine gây ho, ngứa, mất ngủ, thiếu máu, có thể ảnh hưởng đến thai cho nên tuyệt đối phải áp dụng các phương pháp ngừa thai trong suốt thời gian điều trị. Tuy nhiên, các tác dụng phụ này có thể được khắc phục bằng những biện pháp điều trị bổ sung và nâng đỡ thể trạng. Tùy từng loại triệu chứng mà các bác sĩ sẽ có những cách điều trị thích hợp.
Người bệnh cũng cần thực hiện một chế độ ăn uống điều độ và cân đối. Không nên kiêng khem quá mức sẽ gây suy dinh dưỡng và cũng có thể dẫn đến
gan nhiễm mỡ. Rượu bia cần phải hạn chế. Nếu đã bị xơ gan thì phải bỏ rượu hoàn toàn. Các sinh hoạt thông thường hàng ngày vẫn nên tiếp tục. Cần tập thể dục, thể thao vừa sức để tăng cường sức khoẻ.
Chưa có vaccine phòng viêm gan CDo HCV có rất nhiều kiểu gen và khả năng đột biến dễ dàng cho nên đến nay vẫn chưa có vaccine phòng ngừa, vì vậy các biện pháp phòng ngừa chủ yếu là ngăn chặn sự lây lan của virus theo đường máu, không sử dụng chung bơm kim tiêm, không nên xăm hình, xỏ lỗ tai với vật dụng không được tẩy trùng tốt, không dùng chung vật dụng cá nhân dễ gây chảy máu như bàn chải đánh răng, dao cạo râu…, quan hệ tình dục an toàn.
Tại Bệnh viện đa khoa Bình Định đã có những phương tiện chẩn đoán sinh học phân tử của virus viêm gan C như định lượng và xác định kiểu gen của HCV tuy nhiên việc điều trị vẫn chưa được triển khai vì thời gian điều trị kéo dài, chi phí điều trị rất cao. Sắp tới Khoa Truyền Nhiễm sẽ triển khai quy trình điều trị viêm gan virus C mạn và hy vọng những bệnh nhân nghèo có thẻ bảo hiểm y tế sẽ được tiếp cận với việc điều trị này.

Khóa đào tạo Y khoa liên tục về “Viêm gan siêu vi C” tại ĐH Y Dược Huế (ngày 22-23 tháng 06 năm 2013)